21 đề ôn học sinh giởi môn ngữ văn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: hoàng thị dậu
Ngày gửi: 08h:59' 17-12-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: hoàng thị dậu
Ngày gửi: 08h:59' 17-12-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
21 ĐỀ ĐỌC HIỂU NGỮ VĂN 7 ÔN THI HỌC KỲ 2
Đề 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống
trí tuệ. […] Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và
khi không còn nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn
mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm
túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc, lâu dài.
Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên
của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc vận
động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách
gia đình.
Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi
ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi
người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không
quá khó. Việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang.com.vn, ngày 19-72007)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2: Vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc
sống trí tuệ nữa”?
Câu 3: Theo anh/ chị việc nhỏ và công cuộc lớn mà tác giả đề cập đến trong đoạn
văn là gì?
Câu 4: Thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích?
Câu 1 (2,0 điểm)
Hãy viết một bài văn ngắn (Khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý
kiến được nêu trong đoạn trích ở phần đọc hiểu: “ Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu
trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ”.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2: Lí do vì không đọc sách thì đời sống tinh thần của con người sẽ nghèo đi,
cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng.
Câu 3:
- Việc nhỏ là vận động đọc sách và gây dựng tủ sách trong mỗi gia đình, mỗi người
có thể đọc từ vài chục dòng mỗi ngày đến một cuốn sách trong một năm.
- Công cuộc lớn: Đọc sách trở thành ý thức, thành nhu cầu của mỗi người, mỗi gia
đình trong xã hội, phấn đấu đưa việc đọc sách trở thành văn hóa quốc gia, dân tộc.
Câu 4:
- Thông điệp: Từ việc khẳng định đọc sách là biểu hiện của con người có cuộc
sống trí tuệ, không đọc sách sẽ có nhiều tác hại tác giả đã đưa ra lời đề nghị về
phong trào đọc sách và nâng cao ý thức đọc sách ở mọi người.
Câu 1 (2,0 điểm): “ Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con
người có cuộc sống trí tuệ”
Gợi ý làm bài
a. Giải thích: Nhu cầu trí tuệ thường trực là nhu cầu thường xuyên, cần thiết để
mở rộng tri thức và tầm hiểu biết…
b. Bàn luận những tác dụng to lớn của việc đọc sách:
b.
- Văn hóa đọc gắn liền với chữ viết, qua quá trình đọc con người sẽ suy nghĩ, phân
tích, tổng hợp, tư duy, biến tri thức thành của mình và trở thành vốn kiến thức để
vận dụng vào cuộc sống.
- Đọc sách giúp nâng cao nhận thức, hiểu biết về đời sống, xã hội, con người và
nhận thức thức chính mình.” Sách mở rộng ra trước mắt ta những chân trời mới”.
- Việc đọc sách tác động mạnh mẽ tới tư tưởng, tình cảm và thái độ, góp phần hoàn
thiện nhân cách và làm giàu đời sống tinh thần của con người. “ Mỗi cuốn sách nhỏ
là một bậc thang đưa ta tách khỏi phần con để đến với thế giới Người”…….
- Phê phán thực trạng xuống cấp của văn hóa đọc trong thời đại ngày nay đặc biệt
là đối với giới trẻ: Văn hóa đọc dần mai một không chỉ gây tổn thất cho việc truyền
bá tri thức mà còn làm mất dần đi một nét đẹp có tính biểu hiện cao của văn hóa.
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến, rút ra bài học nhận thức, hành động: Những
việc làm thiết thực của cá nhân và cộng đồng trong việc nâng cao, phổ biến văn
hóa đọc.
c. Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân
- Cần có phương pháp đọc để có thể hiểu được thông điệp mà tác giả muốn truyền
tải qua cuốn sách.
- Dành ra thời gian mỗi ngày để đọc sách, vừa giúp chúng ta nâng cao hiểu biết và
giúp thư giãn sau một ngày học tập và làm việc căng thẳng.
ĐỀ 2: Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi bên dưới:
Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm,
trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm. Người có tính khiêm tốn
không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh
hiện tại, lúc nào củng cho sự thành công của mình ỉà tầm thường, không đáng kể,
luôn
luôn
tìm
cách
để
học
hỏi
thêm
nữa.
Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu
tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là
những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân
không thể đem so sánh với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài
năng
đến
đâu
cũng
luôn
luôn
phải
học
thêm,
học
mãi
mãi.
Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không
tự đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ
chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người.
Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường
đời.
(Trích Tinh hoa xử thế, Lâm Ngữ Đường, Ngữ văn 7, tập hai, NXB Giáo dục)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. Anh/ Chị hiểu như thế nào về ý kiến sau: “Tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là
quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la”.
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn thứ
nhất?
Câu 4. Đoạn trích nói về lòng khiêm tốn. Điểu đó có ý nghĩa như thế nào đối với
anh/ chị?
Câu 5. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị vể câu nói
của Ăng-ghen: “Trang bị quý nhất của con người là khiêm tốn và giản dị”.
GỢI Ý LÀM BÀI
Câu
1. Phương
thức
biểu
đạt
chính
của
văn
bản:
nghị
luận.
Câu 2. Ý kiến trên có nghĩa: Tài năng, hiểu biết của mỗi người tuy quan trọng
nhưng hữu hạn, bé nhỏ như “những giọt nước” trong thế giới rộng lớn, “đại dương
bao
la”.
Vì
thế,
cần
phải
khiêm
tốn
học
hỏi.
Câu 3.
Biện pháp liệt kê: Liệt kê các biểu hiện của khiêm tốn: tự cho mình là kém, phải
phấn
đấu
thêm,
trau
dồi
thêm,
học
hỏi
thêm,…
– Tác dụng của biện pháp liệt kê: Diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những biểu
hiện
Câu
của
4. Thí
sinh
đức
tự
rút
Có thể trình bày theo hướng sau:
ra
tính
ý
nghĩa
khiêm
sau
khi
đọc
tốn.
đoạn
trích.
– Đoạn trích là bài học sâu sắc giúp ta hiểu rằng: khiêm tốn là phẩm chất tốt đẹp,
cao
quý
của
con
người.
– Muốn thành công trên đường đời, mỗi người cẩn trang bị lòng khiêm tốn cho bản
thân.
Câu 5. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cẩn hợp lí và có sức thuyết
phục. Có thể tham khảo gợi ý sau để viết đoạn văn:
1.
Giải
thích
– Khiêm tốn: Có ý thức và thái độ đúng mức trong đánh giá bản thân, không tự
mãn,
tự
kiêu,
không
tự
cho
mình
là
hơn
người.
– Giản dị: Đơn giản một cách tự nhiên trong phong cách sống.
– Ý cả câu: Khiêm tốn và giản dị là hai phẩm chất đáng quý của con người; những
đức tính ấy góp phần làm nên nhân cách và giá trị đích thực của con người.
2.
Phân
–
tích
chứng
minh
a) Khiêm tốn là phẩm chất đáng quý, giúp con người ngày càng tốt đẹp hơn
– Trong học tập, trong quan hệ giao tiếp,… người có đức tính khiêm tốn sẽ được
mọi
người
quý
trọng.
– Khiêm tốn sẽ giúp cho con người luôn có ý thức phấn đấu, hướng con người
không
ngừng
vươn
lên
để
hoàn
thiện
bản
thân.
(Dẫn chứng: Đác-uyn là nhà bác học không ngừng học hỏi,…)
b) Giản dị làm nên vẻ đẹp đích thực của con người trong lòng mọi người
– Giản dị trong cách sống, trong hành động, ngôn ngữ,… sẽ giúp con người dễ hòa
đổng
với
xã
hội.
– Giản dị tạo ấn tượng tốt về giá trị đích thực của bản thân.
(Dẫn chứng: Tấm gương Hồ Chí Minh – Chủ tịch nước nhưng cuộc sống hết sức
giản dị và khiêm tốn. Nơi ở và làm việc là ngôi nhà sàn đơn sơ; trang phục với bộ
ka ki, đôi dép cao su, bữa ăn thường là những món dân dã; Người luôn khiêm tốn
với tất cả mọi người – với những người giúp việc, luôn thân mật gọi là cô hay chú,
luôn trân trọng, lễ độ khi tiếp xúc với các vị nhân sĩ; Quốc hội đề nghị tặng Bác
Huân chương cao quý nhất Nhà nước là Huân chương Sao vàng, Bác khiêm tốn từ
chổi và nói: “Miền Nam còn chưa được giải phóng, khi nào thống nhất đất nước
xin Quốc hội ủy quyền cho đổng bào miền Nam thay mặt Quốc hội trao tặng thì tôi
xin nhận”; Di chúc Người còn dặn dò: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu
phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”…)
– Khiêm tốn và giản dị không hề làm giảm giá trị của bản thân mà trái lại sẽ được
mọi người tôn trọng và tin cậy.
3. Bàn luận– Đánh giá: Câu nói của Ăng-ghen thể hiện một quan niệm nhân sinh
sâu sắc, hướng con người vươn tới những giá trị cao quý. Nó giúp con người tránh
khỏi
thói
hợm
hĩnh,
kiêu
ngạo
để
hoàn
thiện
mình.
– Phản biện: Phê phán thói tự cao, tự phụ, khoe khoang, đua đòi, thích phô trương,
chạy
theo
hình
thức…
– Mở rộng: Trong hành trang cuộc sống, mỗi người cần biết làm giàu có tâm hồn
mình từ trau dổi hai phẩm chất khiêm tốn và giản dị. Giá trị đích thực của con
người bắt đầu từ đó.
4. Bài học nhận thức và hành động
– Nhận thức: Khiêm tốn sẽ giúp con người luôn hướng thiện, nêu cao tinh thần học
hỏi, có ý thức phấn đấu không ngừng. Giản dị là một trong những nét đẹp của lối
sống thời hiện đại hôm nay. Tuy nhiên, khiêm tổn không phải là tự ti, giản dị
không phải là xuề xòa, dễ dãi.
– Hành động: Mỗi con người nên học lối sống khiêm tốn và giản dị (trong cách
sống, học tập, hành động, ngôn ngữ…) để có thể hòa đồng YỚi cộng đồng và luôn
phấn đấu đóng góp thật nhiều cho xã hội.
Đề 3: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Bạn ơi, nếu bạn muốn sống một đời mà không phạm chút sai lầm nào, làm gì
được nấy, thì đó hoặc là bạn ảo tưởng, hoặc là bạn hèn nhát trước cuộc đời.
Một người mà lúc nào cũng sợ thất bại, làm gì cũng sợ sai lầm là một người sợ
hãi thực tế, trốn tránh thực tế, và suốt đời không bao giờ có thể tự lập được. Bạn
sợ sặc nước thì bạn không biết bơi; bạn sợ nói sai thì bạn không nói được ngoại
ngữ! Một người mà không chịu mất gì thì sẽ không được gì. Sai lầm cũng có hai
mặt. Tuy nó đem lại tổn thất, nhưng nó cũng đem đến bài học cho đời.
(Theo Ngữ văn 7, tập 2, tr.43, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2015)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2: Anh/Chị hiểu như thế nào về quan niệm: "Một người mà không chịu mất gì
thì sẽ không được gì"?
Câu 3: Theo anh/chị, sai lầm đem đến những tổn thất và bài học gì cho đời?
Câu 4: Anh/Chị hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất trong đoạn trích trên.
Lời giải chi tiết
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2:
- Một người mà không chịu mất gì nghĩa là không chấp nhận mất mát về thời gian,
công sức, tiền bạc, trí tuệ,..
- Thì sẽ không được gì nghĩa là không đạt được thành công, không rút ra được
những bài học kinh nghiệm, không có sức mạnh, bản lĩnh ý chí vươn lên,... và
không thể trưởng thành trong cuộc đời.
Câu 3:
Sai lầm đem đến những tổn thất và bài học quý giá trong cuộc đời:
- Sai lầm đem đến những tổn thất về cả vật chất, tinh thần (nỗi buồn, sự chán nản,
tuyệt vọng,...)
- Sai lầm cũng đem đến những bài học kinh nghiệm, bài học về ý chí, nghị lực; bài
học về cách đối nhân xử thế, cách sống, cách làm người,..
Câu 4:
Thông điệp có ý nghĩa nhất: Đừng sợ thất bại, sai lầm, đừng sợ mọi thử thách, gian
khổ, hãy bản lĩnh, tự tin đối mặt với mọi sóng gió để rèn luyện bản thân,...
Đề 4: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
“Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua
bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao
giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn
không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn rất
ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị
có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những
giá trị đó.”
(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn...- Phạm Lữ Ân)
a. Gọi tên phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
b. Xác định câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn.
c. Chỉ ra điểm giống nhau về cách lập luận trong 4 câu đầu của đoạn trích.
d. Cho mọi người biết giá trị riêng (thế mạnh riêng) của bản thân bạn. Trả lời trong
khoảng từ 3 - 4 câu.
Trả lời:
a: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Phương thức nghị
luận.
b. Câu khái quát chủ đề đoạn văn là: Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều
được sinh ra với những giá trị có sẵn. Có thể dẫn thêm câu: Và chính bạn, hơn ai
hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.
c. Điểm giống nhau về cách lập luận: lập luận theo hình thức đưa ra giả định về sự
không có mặt của yếu tố thứ nhất để từ đó khẳng định, nhấn mạnh sự có mặt mang
tính chất thay thế của yếu tố thứ hai.
d. Câu này có đáp án mở, tùy thuộc vào mỗi người.
Đề 5: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Học vẫn chỉ là một phần trong quá trình học hỏi mà thôi. Thông qua học hỏi, bạn
sẽ
đạt được nhiều thứ hơn: hình thành tính cách, mở mang trí tuệ, học cách tôn trọng
người khác và khiêm tốn hơn, bởi vì càng học hỏi bạn càng hiểu rằng kho tàng
kiến
thức là vô tận. Và bạn có thể học hỏi nhiều thứ từ mọi người chung quanh, từ mỗi
trải nghiệm, hay những khó khăn, giông tố trong đời.
(Theo Cho đi là còn mãi, Azim Jamal & Harvey McKinnon,
NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2017, tr.67-68)
a. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích
b. Tìm một phép liên kết câu, xác định từ ngữ thực hiện phép liên kết
ấy được sử dụng trong đoạn trích.
c. Trong đoạn trích trên, em hãy chọn một ý kiến và lí giải vì sao em
đồng ý hoặc không đồng ý với ý kiến đó.
d. Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (từ 7 đến 10 câu)
trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của việc không ngừng học hỏi.
Trả lời:
a. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận
b. - Phép liên kết câu là phép lặp ở câu 1 và 2 : từ ngữ lặp "học hỏi".
- Phép nối ở câu 3, 4 với từ "và".
Tác dụng: Nhằm liên kết các câu trong đoạn văn với nhau.
c. Các em có thể lựa chọn các ý sau để phân tích:
- Học vẫn chỉ là một phần trong quá trình học hỏi mà thôi.
- Thông qua học hỏi, bạn sẽ đạt được nhiều thứ hơn: hình thành tính cách, mở
mang trí tuệ, học cách tôn trọng người khác và khiêm tốn hơn.
- Càng học hỏi bạn càng hiểu rằng kho tàng kiến thức là vô tận
- Học hỏi nhiều thứ từ mọi người chung quanh, từ mỗi trải nghiệm, hay những khó
khăn, giông tố trong đời.
d. Có thể tham khảo những ý sau đây về ý nghĩa của việc không ngừng học hỏi:
- Học hỏi là gì?
Học hỏi là quá trình bạn tìm kiếm, khám phá những tri thức mới, đặt ra những thắc
mắc và tìm sự hỗ trợ hoặc tự mình tìm ra câu trả lời cho những thắc mắc ấy. Không
ngừng học hỏi là con đường dẫn đến thành công
- Tại sao lại cần phải học hỏi?
+ Học tập sẽ chuẩn bị hành trang thay đổi cuộc đời
+ Học hỏi giúp xây nên thứ vũ khí hủy diệt
+ Là cách để ta luôn luôn theo kịp được với thời đại.
+ Học hỏi để nâng cao hình tượng trong mắt người khác
+ Học hỏi giúp ta liên hệ đến nhiều thứ, từ đó biết thêm nhiều điều khác nữa.
- Ý nghĩa của việc học hỏi:
+Mở rộng hiểu biết bản thân, giúp bạn tự tin về mọi mặt trong cuộc sống.
+ Học hỏi sẽ giúp tâm hồn rộng mờ, bắp kịp xu thế của thời đại.
+ Dễ dàng đạt được sự thành công.
- Nếu không học hỏi, nâng cao bản thân, con người sẽ tụt hậu. Mỗi cá nhân tụt hậu
sẽ kéo theo sự thoái hóa về nhiều mặt trong xã hội.
- Các nguồn để học hỏi: sách vở, từ những người thân, bạn bè, thầy cô, từ trải
nghiệm của cá nhân mình,
- Phê phán những người lười biếng, tự cao, tự mãn với bản thân.
- Liên hệ bản thân: Em đã không ngừng học hỏi hay chưa? Hãy chia sẻ đôi điều về
bản thân mình trong chủ đề trên? Phương pháp phân tích, tổng hợp.
=>Tóm tại, học hỏi là quá trình giúp bạn hiểu biết nhiều hơn về cuộc đời, và nhờ
học hỏi, bạn sẽ hiểu rõ được bản chất ở những vấn đề mà bạn tiếp cận, rút ra được
đâu là điều nên làm, đâu là điều không nên làm, điều nào là tốt, điều nào là xấu,....
Đề 6: Đọc bài văn nghị luận sau và trả lời câu hỏi:
ĐỪNG SỢ VẤP NGÃ
Bất cứ ai cũng đã từng thất bại, đã từng vấp ngã ít nhất một lần trong đời như
một quy luật bất biến của tự nhiên. Có nhiều người có khả năng vực dậy, đứng lên
rồi nhẹ nhàng bước tiếp như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, nhưng cũng có nhiều
người chỉ có thể ngồi một chỗ và vẫn luôn tự hỏi lí do vì sao bản thân lại có thể dễ
dàng “mắc bẫy” đến như thế…
Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng
giá: về một bài toán đã áp dụng cách giải sai, về lòng tốt đã gửi nhầm chủ nhân
hay vẽ một tình yêu lâu dài bỗng phát hiện đã trao nhầm đối tượng,…
Đừng để khỉ tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để
khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi. Thời gian
làm tuổi trẻ đi qua nhanh lắm, không gì là mãi mãi, nên hãy sống hết mình để
không nuối tiếc những gì chỉ còn lại trong quá khứ mà thôi…
(Trích Hãy
học
cách
đứng
lên
sau
vấp
ngã,
theo
http://www.vietgiaitri.com, 4/6/2015)
a. Hãy chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. (0,5 điểm)
b. Đoạn văn trên để cập đến nội dung gì? (0,5 điểm)
c. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng “Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống
cũng đểu mang lại cho ta một bài học đáng giá”. (1 điểm)
d. Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì trong hai câu văn sau: “Đừng để khi tia
nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia đã
tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi”? Hãy phân tích hiệu quả biểu
đạt của biện pháp tu từ đó. (1 điểm)
e. (2 điểm)
Có ý kiến cho rằng: “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”.
Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của mình vể ý
kiến trên.
Trả lời:
a. Phương thức biểu đạt chính trong trích đoạn trên là nghị luận. (0,5 điểm)
b. Nội dung đoạn trích (0,5 điểm)
– Hãy đứng lên sau vấp ngã vì mỗi lẩn vấp ngã là một lần ta rút ra được những bài
học cho bản thân.
– Hãy biết yêu thương, sẻ chia, đồng cảm để không phải nuối tiếc khi nhìn lại quá
khứ.
c. Những bài học rút ra: (1 điểm)
– Bài học vể kinh nghiệm sống.
– Bài học về ý chí, nghị lực vươn lên.
– Bài học về giá trị đáng quý của cuộc sống.
d. Đoạn văn sử dụng ba biện pháp tu từ (Học sinh chỉ cần nêu được 1 trong 3 biện
pháp tu từ): (1 điểm)
+ Điệp ngữ (Đừng để khi)
+ Điệp cấu trúc ngữ pháp (lặp cấu trúc ngữ pháp).
+ Đối lập (tia nắng… đã lên >< giọt lệ… rơi).
– Tác dụng:
+ Biện pháp điệp ngữ; điệp cấu trúc ngữ pháp: Tạo âm hưởng nhịp nhàng, cân đối;
nhấn mạnh, khuyến khích mọi người hãy từ bỏ những ưu phiền để sống vui vẻ, hòa
nhịp với thế giới xung quanh…
+ Biện pháp đối lập: Làm nổi bật sự trái ngược giữa ngoại cảnh với tâm trạng con
người, nhằm khích lệ con người từ bỏ những ưu phiền, hướng đến cuộc sống vui
tươi, ý nghĩa.
e. (2 điểm)
Yêu cầu về kĩ năng
– Biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội với bố cục rõ ràng, mạch lạc.
– Hành văn trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, độ dài không quá
200 từ.
– Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh,
bình luận,… dẫn chứng tiêu biểu.
Yêu cầu về kiến thức
Bài viết có thể trình bày theo nhiểu cách khác nhau nhưng cần làm rõ những yêu
cẩu cơ bản sau:
– Giải thích: Thế nào là chiến thắng và chiến thắng bản thân mình?
– Sống là đấu tranh, con người phải đấu tranh và phải chiến thắng.
– Đấu tranh với bản thân, với chính mình là cuộc chiến vô cùng khó khăn:
– Nêu bài học: Đấu tranh với chính mình là điều cần thiết. Đó cũng là cách để con
người hoàn thiện nhân cách.
Đoạn văn mẫu
Chiến thắng là kết quả tốt đẹp mà chúng ta đạt được sau một thời gian đấu
tranh. Có một câu nói đã thể hiện rất sâu sắc về ý nghĩa của chiến thắng là
“Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”. Chiến thắng bản thân
là tự đấu tranh vượt lên cái xấu, cái thấp hèn trong chính con người mình.
Cuộc sống vốn dĩ luôn cần sự đấu tranh để sinh tồn, ví dụ đấu tranh chống
thiên tai, chống đói nghèo,… Nhưng cuộc đấu tranh với những yếu tố khách
quan không khó khăn bằng đấu tranh với chính bản thân mình. Bởi lẽ, điều
không tốt ở chính ta không phải lúc nào cũng dễ nhận ra – nhất là khi ta đứng
trước những cám dỗ. Tuy nhiên, nếu nhận ra hạn chế của bản thân để vươn lên
lại là sự tự khẳng định mình. Có rất nhiều tấm gương như thế, chẳng hạn
Socrates nói ngọng bẩm sinh nhưng ông đã chiến thắng trong cuộc chiến đấu
với phần khiếm khuyết của bản thân bằng cách tập nói, luyện diễn thuyết trước
sóng biển để trở thành nhà hùng biện. Như vậy, câu nói chứa đựng một quan
niệm sống đúng đắn – hướng con người vươn tới những giá trị đích thực của
bản thân để hoàn thiện nhân cách.
Đề 7 : Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa. Có những bông hoa lớn và cũng có những
bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa
rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn
sắc kết thúc “đời hoa” bên vệ đường.
Sứ mệnh của hoa là nở. Cho dù không có những ưu thế để như nhiều loài hoa khác,
cho dù được đặt ở bất cứ đâu, thì cũng hãy bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp
mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến cho đời.
[...]
Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu.
(Kazuko Watanabe, Mình là nắng việc của mình là chói chang, Vũ Thùy Linh dịch,
NXB Thế giới, 2018)
Câu 1 (0.5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2 (1.0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong
câu văn: Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông
nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở
những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc "đời hoa” bên vệ
đường.
Câu 3 (0.5 điểm). Nêu hàm ý của câu: Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có
được gieo mầm ở bất cứ đâu.
Câu 4 (1.0 điểm). Em có đồng tình với suy nghĩ của tác giả: “Mỗi chúng ta đều
giống một đóa hoa.” không? Vì sao?
Câu 5 (2.0 điểm) Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn
(khoảng
150 chữ) với chủ đề: Tôi là một đóa hoa.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.
Câu 2.
"Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm
và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những
cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc "đời hoa” bên v
Đề 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống
trí tuệ. […] Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và
khi không còn nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn
mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm
túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc, lâu dài.
Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên
của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc vận
động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách
gia đình.
Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi
ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi
người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không
quá khó. Việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang.com.vn, ngày 19-72007)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2: Vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc
sống trí tuệ nữa”?
Câu 3: Theo anh/ chị việc nhỏ và công cuộc lớn mà tác giả đề cập đến trong đoạn
văn là gì?
Câu 4: Thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích?
Câu 1 (2,0 điểm)
Hãy viết một bài văn ngắn (Khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý
kiến được nêu trong đoạn trích ở phần đọc hiểu: “ Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu
trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ”.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2: Lí do vì không đọc sách thì đời sống tinh thần của con người sẽ nghèo đi,
cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng.
Câu 3:
- Việc nhỏ là vận động đọc sách và gây dựng tủ sách trong mỗi gia đình, mỗi người
có thể đọc từ vài chục dòng mỗi ngày đến một cuốn sách trong một năm.
- Công cuộc lớn: Đọc sách trở thành ý thức, thành nhu cầu của mỗi người, mỗi gia
đình trong xã hội, phấn đấu đưa việc đọc sách trở thành văn hóa quốc gia, dân tộc.
Câu 4:
- Thông điệp: Từ việc khẳng định đọc sách là biểu hiện của con người có cuộc
sống trí tuệ, không đọc sách sẽ có nhiều tác hại tác giả đã đưa ra lời đề nghị về
phong trào đọc sách và nâng cao ý thức đọc sách ở mọi người.
Câu 1 (2,0 điểm): “ Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con
người có cuộc sống trí tuệ”
Gợi ý làm bài
a. Giải thích: Nhu cầu trí tuệ thường trực là nhu cầu thường xuyên, cần thiết để
mở rộng tri thức và tầm hiểu biết…
b. Bàn luận những tác dụng to lớn của việc đọc sách:
b.
- Văn hóa đọc gắn liền với chữ viết, qua quá trình đọc con người sẽ suy nghĩ, phân
tích, tổng hợp, tư duy, biến tri thức thành của mình và trở thành vốn kiến thức để
vận dụng vào cuộc sống.
- Đọc sách giúp nâng cao nhận thức, hiểu biết về đời sống, xã hội, con người và
nhận thức thức chính mình.” Sách mở rộng ra trước mắt ta những chân trời mới”.
- Việc đọc sách tác động mạnh mẽ tới tư tưởng, tình cảm và thái độ, góp phần hoàn
thiện nhân cách và làm giàu đời sống tinh thần của con người. “ Mỗi cuốn sách nhỏ
là một bậc thang đưa ta tách khỏi phần con để đến với thế giới Người”…….
- Phê phán thực trạng xuống cấp của văn hóa đọc trong thời đại ngày nay đặc biệt
là đối với giới trẻ: Văn hóa đọc dần mai một không chỉ gây tổn thất cho việc truyền
bá tri thức mà còn làm mất dần đi một nét đẹp có tính biểu hiện cao của văn hóa.
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến, rút ra bài học nhận thức, hành động: Những
việc làm thiết thực của cá nhân và cộng đồng trong việc nâng cao, phổ biến văn
hóa đọc.
c. Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân
- Cần có phương pháp đọc để có thể hiểu được thông điệp mà tác giả muốn truyền
tải qua cuốn sách.
- Dành ra thời gian mỗi ngày để đọc sách, vừa giúp chúng ta nâng cao hiểu biết và
giúp thư giãn sau một ngày học tập và làm việc căng thẳng.
ĐỀ 2: Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi bên dưới:
Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm,
trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm. Người có tính khiêm tốn
không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh
hiện tại, lúc nào củng cho sự thành công của mình ỉà tầm thường, không đáng kể,
luôn
luôn
tìm
cách
để
học
hỏi
thêm
nữa.
Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu
tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là
những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân
không thể đem so sánh với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài
năng
đến
đâu
cũng
luôn
luôn
phải
học
thêm,
học
mãi
mãi.
Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không
tự đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ
chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người.
Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường
đời.
(Trích Tinh hoa xử thế, Lâm Ngữ Đường, Ngữ văn 7, tập hai, NXB Giáo dục)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. Anh/ Chị hiểu như thế nào về ý kiến sau: “Tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là
quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la”.
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn thứ
nhất?
Câu 4. Đoạn trích nói về lòng khiêm tốn. Điểu đó có ý nghĩa như thế nào đối với
anh/ chị?
Câu 5. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị vể câu nói
của Ăng-ghen: “Trang bị quý nhất của con người là khiêm tốn và giản dị”.
GỢI Ý LÀM BÀI
Câu
1. Phương
thức
biểu
đạt
chính
của
văn
bản:
nghị
luận.
Câu 2. Ý kiến trên có nghĩa: Tài năng, hiểu biết của mỗi người tuy quan trọng
nhưng hữu hạn, bé nhỏ như “những giọt nước” trong thế giới rộng lớn, “đại dương
bao
la”.
Vì
thế,
cần
phải
khiêm
tốn
học
hỏi.
Câu 3.
Biện pháp liệt kê: Liệt kê các biểu hiện của khiêm tốn: tự cho mình là kém, phải
phấn
đấu
thêm,
trau
dồi
thêm,
học
hỏi
thêm,…
– Tác dụng của biện pháp liệt kê: Diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những biểu
hiện
Câu
của
4. Thí
sinh
đức
tự
rút
Có thể trình bày theo hướng sau:
ra
tính
ý
nghĩa
khiêm
sau
khi
đọc
tốn.
đoạn
trích.
– Đoạn trích là bài học sâu sắc giúp ta hiểu rằng: khiêm tốn là phẩm chất tốt đẹp,
cao
quý
của
con
người.
– Muốn thành công trên đường đời, mỗi người cẩn trang bị lòng khiêm tốn cho bản
thân.
Câu 5. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cẩn hợp lí và có sức thuyết
phục. Có thể tham khảo gợi ý sau để viết đoạn văn:
1.
Giải
thích
– Khiêm tốn: Có ý thức và thái độ đúng mức trong đánh giá bản thân, không tự
mãn,
tự
kiêu,
không
tự
cho
mình
là
hơn
người.
– Giản dị: Đơn giản một cách tự nhiên trong phong cách sống.
– Ý cả câu: Khiêm tốn và giản dị là hai phẩm chất đáng quý của con người; những
đức tính ấy góp phần làm nên nhân cách và giá trị đích thực của con người.
2.
Phân
–
tích
chứng
minh
a) Khiêm tốn là phẩm chất đáng quý, giúp con người ngày càng tốt đẹp hơn
– Trong học tập, trong quan hệ giao tiếp,… người có đức tính khiêm tốn sẽ được
mọi
người
quý
trọng.
– Khiêm tốn sẽ giúp cho con người luôn có ý thức phấn đấu, hướng con người
không
ngừng
vươn
lên
để
hoàn
thiện
bản
thân.
(Dẫn chứng: Đác-uyn là nhà bác học không ngừng học hỏi,…)
b) Giản dị làm nên vẻ đẹp đích thực của con người trong lòng mọi người
– Giản dị trong cách sống, trong hành động, ngôn ngữ,… sẽ giúp con người dễ hòa
đổng
với
xã
hội.
– Giản dị tạo ấn tượng tốt về giá trị đích thực của bản thân.
(Dẫn chứng: Tấm gương Hồ Chí Minh – Chủ tịch nước nhưng cuộc sống hết sức
giản dị và khiêm tốn. Nơi ở và làm việc là ngôi nhà sàn đơn sơ; trang phục với bộ
ka ki, đôi dép cao su, bữa ăn thường là những món dân dã; Người luôn khiêm tốn
với tất cả mọi người – với những người giúp việc, luôn thân mật gọi là cô hay chú,
luôn trân trọng, lễ độ khi tiếp xúc với các vị nhân sĩ; Quốc hội đề nghị tặng Bác
Huân chương cao quý nhất Nhà nước là Huân chương Sao vàng, Bác khiêm tốn từ
chổi và nói: “Miền Nam còn chưa được giải phóng, khi nào thống nhất đất nước
xin Quốc hội ủy quyền cho đổng bào miền Nam thay mặt Quốc hội trao tặng thì tôi
xin nhận”; Di chúc Người còn dặn dò: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu
phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”…)
– Khiêm tốn và giản dị không hề làm giảm giá trị của bản thân mà trái lại sẽ được
mọi người tôn trọng và tin cậy.
3. Bàn luận– Đánh giá: Câu nói của Ăng-ghen thể hiện một quan niệm nhân sinh
sâu sắc, hướng con người vươn tới những giá trị cao quý. Nó giúp con người tránh
khỏi
thói
hợm
hĩnh,
kiêu
ngạo
để
hoàn
thiện
mình.
– Phản biện: Phê phán thói tự cao, tự phụ, khoe khoang, đua đòi, thích phô trương,
chạy
theo
hình
thức…
– Mở rộng: Trong hành trang cuộc sống, mỗi người cần biết làm giàu có tâm hồn
mình từ trau dổi hai phẩm chất khiêm tốn và giản dị. Giá trị đích thực của con
người bắt đầu từ đó.
4. Bài học nhận thức và hành động
– Nhận thức: Khiêm tốn sẽ giúp con người luôn hướng thiện, nêu cao tinh thần học
hỏi, có ý thức phấn đấu không ngừng. Giản dị là một trong những nét đẹp của lối
sống thời hiện đại hôm nay. Tuy nhiên, khiêm tổn không phải là tự ti, giản dị
không phải là xuề xòa, dễ dãi.
– Hành động: Mỗi con người nên học lối sống khiêm tốn và giản dị (trong cách
sống, học tập, hành động, ngôn ngữ…) để có thể hòa đồng YỚi cộng đồng và luôn
phấn đấu đóng góp thật nhiều cho xã hội.
Đề 3: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Bạn ơi, nếu bạn muốn sống một đời mà không phạm chút sai lầm nào, làm gì
được nấy, thì đó hoặc là bạn ảo tưởng, hoặc là bạn hèn nhát trước cuộc đời.
Một người mà lúc nào cũng sợ thất bại, làm gì cũng sợ sai lầm là một người sợ
hãi thực tế, trốn tránh thực tế, và suốt đời không bao giờ có thể tự lập được. Bạn
sợ sặc nước thì bạn không biết bơi; bạn sợ nói sai thì bạn không nói được ngoại
ngữ! Một người mà không chịu mất gì thì sẽ không được gì. Sai lầm cũng có hai
mặt. Tuy nó đem lại tổn thất, nhưng nó cũng đem đến bài học cho đời.
(Theo Ngữ văn 7, tập 2, tr.43, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2015)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2: Anh/Chị hiểu như thế nào về quan niệm: "Một người mà không chịu mất gì
thì sẽ không được gì"?
Câu 3: Theo anh/chị, sai lầm đem đến những tổn thất và bài học gì cho đời?
Câu 4: Anh/Chị hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất trong đoạn trích trên.
Lời giải chi tiết
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2:
- Một người mà không chịu mất gì nghĩa là không chấp nhận mất mát về thời gian,
công sức, tiền bạc, trí tuệ,..
- Thì sẽ không được gì nghĩa là không đạt được thành công, không rút ra được
những bài học kinh nghiệm, không có sức mạnh, bản lĩnh ý chí vươn lên,... và
không thể trưởng thành trong cuộc đời.
Câu 3:
Sai lầm đem đến những tổn thất và bài học quý giá trong cuộc đời:
- Sai lầm đem đến những tổn thất về cả vật chất, tinh thần (nỗi buồn, sự chán nản,
tuyệt vọng,...)
- Sai lầm cũng đem đến những bài học kinh nghiệm, bài học về ý chí, nghị lực; bài
học về cách đối nhân xử thế, cách sống, cách làm người,..
Câu 4:
Thông điệp có ý nghĩa nhất: Đừng sợ thất bại, sai lầm, đừng sợ mọi thử thách, gian
khổ, hãy bản lĩnh, tự tin đối mặt với mọi sóng gió để rèn luyện bản thân,...
Đề 4: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
“Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua
bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao
giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn
không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn rất
ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị
có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những
giá trị đó.”
(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn...- Phạm Lữ Ân)
a. Gọi tên phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
b. Xác định câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn.
c. Chỉ ra điểm giống nhau về cách lập luận trong 4 câu đầu của đoạn trích.
d. Cho mọi người biết giá trị riêng (thế mạnh riêng) của bản thân bạn. Trả lời trong
khoảng từ 3 - 4 câu.
Trả lời:
a: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Phương thức nghị
luận.
b. Câu khái quát chủ đề đoạn văn là: Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều
được sinh ra với những giá trị có sẵn. Có thể dẫn thêm câu: Và chính bạn, hơn ai
hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.
c. Điểm giống nhau về cách lập luận: lập luận theo hình thức đưa ra giả định về sự
không có mặt của yếu tố thứ nhất để từ đó khẳng định, nhấn mạnh sự có mặt mang
tính chất thay thế của yếu tố thứ hai.
d. Câu này có đáp án mở, tùy thuộc vào mỗi người.
Đề 5: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Học vẫn chỉ là một phần trong quá trình học hỏi mà thôi. Thông qua học hỏi, bạn
sẽ
đạt được nhiều thứ hơn: hình thành tính cách, mở mang trí tuệ, học cách tôn trọng
người khác và khiêm tốn hơn, bởi vì càng học hỏi bạn càng hiểu rằng kho tàng
kiến
thức là vô tận. Và bạn có thể học hỏi nhiều thứ từ mọi người chung quanh, từ mỗi
trải nghiệm, hay những khó khăn, giông tố trong đời.
(Theo Cho đi là còn mãi, Azim Jamal & Harvey McKinnon,
NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2017, tr.67-68)
a. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích
b. Tìm một phép liên kết câu, xác định từ ngữ thực hiện phép liên kết
ấy được sử dụng trong đoạn trích.
c. Trong đoạn trích trên, em hãy chọn một ý kiến và lí giải vì sao em
đồng ý hoặc không đồng ý với ý kiến đó.
d. Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (từ 7 đến 10 câu)
trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của việc không ngừng học hỏi.
Trả lời:
a. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận
b. - Phép liên kết câu là phép lặp ở câu 1 và 2 : từ ngữ lặp "học hỏi".
- Phép nối ở câu 3, 4 với từ "và".
Tác dụng: Nhằm liên kết các câu trong đoạn văn với nhau.
c. Các em có thể lựa chọn các ý sau để phân tích:
- Học vẫn chỉ là một phần trong quá trình học hỏi mà thôi.
- Thông qua học hỏi, bạn sẽ đạt được nhiều thứ hơn: hình thành tính cách, mở
mang trí tuệ, học cách tôn trọng người khác và khiêm tốn hơn.
- Càng học hỏi bạn càng hiểu rằng kho tàng kiến thức là vô tận
- Học hỏi nhiều thứ từ mọi người chung quanh, từ mỗi trải nghiệm, hay những khó
khăn, giông tố trong đời.
d. Có thể tham khảo những ý sau đây về ý nghĩa của việc không ngừng học hỏi:
- Học hỏi là gì?
Học hỏi là quá trình bạn tìm kiếm, khám phá những tri thức mới, đặt ra những thắc
mắc và tìm sự hỗ trợ hoặc tự mình tìm ra câu trả lời cho những thắc mắc ấy. Không
ngừng học hỏi là con đường dẫn đến thành công
- Tại sao lại cần phải học hỏi?
+ Học tập sẽ chuẩn bị hành trang thay đổi cuộc đời
+ Học hỏi giúp xây nên thứ vũ khí hủy diệt
+ Là cách để ta luôn luôn theo kịp được với thời đại.
+ Học hỏi để nâng cao hình tượng trong mắt người khác
+ Học hỏi giúp ta liên hệ đến nhiều thứ, từ đó biết thêm nhiều điều khác nữa.
- Ý nghĩa của việc học hỏi:
+Mở rộng hiểu biết bản thân, giúp bạn tự tin về mọi mặt trong cuộc sống.
+ Học hỏi sẽ giúp tâm hồn rộng mờ, bắp kịp xu thế của thời đại.
+ Dễ dàng đạt được sự thành công.
- Nếu không học hỏi, nâng cao bản thân, con người sẽ tụt hậu. Mỗi cá nhân tụt hậu
sẽ kéo theo sự thoái hóa về nhiều mặt trong xã hội.
- Các nguồn để học hỏi: sách vở, từ những người thân, bạn bè, thầy cô, từ trải
nghiệm của cá nhân mình,
- Phê phán những người lười biếng, tự cao, tự mãn với bản thân.
- Liên hệ bản thân: Em đã không ngừng học hỏi hay chưa? Hãy chia sẻ đôi điều về
bản thân mình trong chủ đề trên? Phương pháp phân tích, tổng hợp.
=>Tóm tại, học hỏi là quá trình giúp bạn hiểu biết nhiều hơn về cuộc đời, và nhờ
học hỏi, bạn sẽ hiểu rõ được bản chất ở những vấn đề mà bạn tiếp cận, rút ra được
đâu là điều nên làm, đâu là điều không nên làm, điều nào là tốt, điều nào là xấu,....
Đề 6: Đọc bài văn nghị luận sau và trả lời câu hỏi:
ĐỪNG SỢ VẤP NGÃ
Bất cứ ai cũng đã từng thất bại, đã từng vấp ngã ít nhất một lần trong đời như
một quy luật bất biến của tự nhiên. Có nhiều người có khả năng vực dậy, đứng lên
rồi nhẹ nhàng bước tiếp như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, nhưng cũng có nhiều
người chỉ có thể ngồi một chỗ và vẫn luôn tự hỏi lí do vì sao bản thân lại có thể dễ
dàng “mắc bẫy” đến như thế…
Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng
giá: về một bài toán đã áp dụng cách giải sai, về lòng tốt đã gửi nhầm chủ nhân
hay vẽ một tình yêu lâu dài bỗng phát hiện đã trao nhầm đối tượng,…
Đừng để khỉ tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để
khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi. Thời gian
làm tuổi trẻ đi qua nhanh lắm, không gì là mãi mãi, nên hãy sống hết mình để
không nuối tiếc những gì chỉ còn lại trong quá khứ mà thôi…
(Trích Hãy
học
cách
đứng
lên
sau
vấp
ngã,
theo
http://www.vietgiaitri.com, 4/6/2015)
a. Hãy chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. (0,5 điểm)
b. Đoạn văn trên để cập đến nội dung gì? (0,5 điểm)
c. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng “Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống
cũng đểu mang lại cho ta một bài học đáng giá”. (1 điểm)
d. Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì trong hai câu văn sau: “Đừng để khi tia
nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia đã
tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi”? Hãy phân tích hiệu quả biểu
đạt của biện pháp tu từ đó. (1 điểm)
e. (2 điểm)
Có ý kiến cho rằng: “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”.
Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của mình vể ý
kiến trên.
Trả lời:
a. Phương thức biểu đạt chính trong trích đoạn trên là nghị luận. (0,5 điểm)
b. Nội dung đoạn trích (0,5 điểm)
– Hãy đứng lên sau vấp ngã vì mỗi lẩn vấp ngã là một lần ta rút ra được những bài
học cho bản thân.
– Hãy biết yêu thương, sẻ chia, đồng cảm để không phải nuối tiếc khi nhìn lại quá
khứ.
c. Những bài học rút ra: (1 điểm)
– Bài học vể kinh nghiệm sống.
– Bài học về ý chí, nghị lực vươn lên.
– Bài học về giá trị đáng quý của cuộc sống.
d. Đoạn văn sử dụng ba biện pháp tu từ (Học sinh chỉ cần nêu được 1 trong 3 biện
pháp tu từ): (1 điểm)
+ Điệp ngữ (Đừng để khi)
+ Điệp cấu trúc ngữ pháp (lặp cấu trúc ngữ pháp).
+ Đối lập (tia nắng… đã lên >< giọt lệ… rơi).
– Tác dụng:
+ Biện pháp điệp ngữ; điệp cấu trúc ngữ pháp: Tạo âm hưởng nhịp nhàng, cân đối;
nhấn mạnh, khuyến khích mọi người hãy từ bỏ những ưu phiền để sống vui vẻ, hòa
nhịp với thế giới xung quanh…
+ Biện pháp đối lập: Làm nổi bật sự trái ngược giữa ngoại cảnh với tâm trạng con
người, nhằm khích lệ con người từ bỏ những ưu phiền, hướng đến cuộc sống vui
tươi, ý nghĩa.
e. (2 điểm)
Yêu cầu về kĩ năng
– Biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội với bố cục rõ ràng, mạch lạc.
– Hành văn trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, độ dài không quá
200 từ.
– Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh,
bình luận,… dẫn chứng tiêu biểu.
Yêu cầu về kiến thức
Bài viết có thể trình bày theo nhiểu cách khác nhau nhưng cần làm rõ những yêu
cẩu cơ bản sau:
– Giải thích: Thế nào là chiến thắng và chiến thắng bản thân mình?
– Sống là đấu tranh, con người phải đấu tranh và phải chiến thắng.
– Đấu tranh với bản thân, với chính mình là cuộc chiến vô cùng khó khăn:
– Nêu bài học: Đấu tranh với chính mình là điều cần thiết. Đó cũng là cách để con
người hoàn thiện nhân cách.
Đoạn văn mẫu
Chiến thắng là kết quả tốt đẹp mà chúng ta đạt được sau một thời gian đấu
tranh. Có một câu nói đã thể hiện rất sâu sắc về ý nghĩa của chiến thắng là
“Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”. Chiến thắng bản thân
là tự đấu tranh vượt lên cái xấu, cái thấp hèn trong chính con người mình.
Cuộc sống vốn dĩ luôn cần sự đấu tranh để sinh tồn, ví dụ đấu tranh chống
thiên tai, chống đói nghèo,… Nhưng cuộc đấu tranh với những yếu tố khách
quan không khó khăn bằng đấu tranh với chính bản thân mình. Bởi lẽ, điều
không tốt ở chính ta không phải lúc nào cũng dễ nhận ra – nhất là khi ta đứng
trước những cám dỗ. Tuy nhiên, nếu nhận ra hạn chế của bản thân để vươn lên
lại là sự tự khẳng định mình. Có rất nhiều tấm gương như thế, chẳng hạn
Socrates nói ngọng bẩm sinh nhưng ông đã chiến thắng trong cuộc chiến đấu
với phần khiếm khuyết của bản thân bằng cách tập nói, luyện diễn thuyết trước
sóng biển để trở thành nhà hùng biện. Như vậy, câu nói chứa đựng một quan
niệm sống đúng đắn – hướng con người vươn tới những giá trị đích thực của
bản thân để hoàn thiện nhân cách.
Đề 7 : Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa. Có những bông hoa lớn và cũng có những
bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa
rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn
sắc kết thúc “đời hoa” bên vệ đường.
Sứ mệnh của hoa là nở. Cho dù không có những ưu thế để như nhiều loài hoa khác,
cho dù được đặt ở bất cứ đâu, thì cũng hãy bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp
mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến cho đời.
[...]
Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu.
(Kazuko Watanabe, Mình là nắng việc của mình là chói chang, Vũ Thùy Linh dịch,
NXB Thế giới, 2018)
Câu 1 (0.5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2 (1.0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong
câu văn: Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông
nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở
những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc "đời hoa” bên vệ
đường.
Câu 3 (0.5 điểm). Nêu hàm ý của câu: Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có
được gieo mầm ở bất cứ đâu.
Câu 4 (1.0 điểm). Em có đồng tình với suy nghĩ của tác giả: “Mỗi chúng ta đều
giống một đóa hoa.” không? Vì sao?
Câu 5 (2.0 điểm) Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn
(khoảng
150 chữ) với chủ đề: Tôi là một đóa hoa.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.
Câu 2.
"Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm
và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những
cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc "đời hoa” bên v
 





