bí ẩn cột cờ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: hoàng thị dậu
Ngày gửi: 10h:03' 05-11-2025
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: hoàng thị dậu
Ngày gửi: 10h:03' 05-11-2025
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Bí Ẩn Bộ Cờ Montglane
Katherine Neville & Nguyễn Lâm Xuân Các
NXB Văn Hóa Thông Tin (2021)
Từ khóa: Best Seller, Trinh Thám, Tiểu Thuyết
THE INTERNATIONAL BESTSELLER
KATHERINE NEVILLE
Bí ẩn bộ cờ Montglane
NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN LÂM XUÂN CÁC
Thực hiện ebook: page Duyên sách
NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN
HÀ NỘI 2008
Table of Contents
PHÒNG VỆ
QUÂN TỐT TIẾN ĐẾN Ở BỐN CÁNH HẬU
MỘT NƯỚC CỜ KÍN ĐÁO
FIANCHETTO
MỘT VÁN CỜ
CUỘC TRAO ĐỔI CỦA CÁC BÀ HOÀNG
BÁNH XE CỦA HIỆP SĨ
CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA KỴ SĨ
HY SINH
BẪY CỜ NĨA
QUÂN TỐT TIẾN LÊN
TRỌNG TÂM BÀN CỜ
TRẬN ĐẤU CHÍNH GIỮA
HÒN ĐẢO NHỎ
PHÂN TÍCH VỊ TRÍ
TIẾNG NÓI CỦA SA MẠC
NHỮNG NGỌN NÚI THẦN KỲ
LÂU ĐÀI
CÁI CHẾT CỦA NHỮNG VỊ VUA
NỮ HOÀNG ĐEN
LỤC ĐỊA THẤT LẠC
ZUGZWANG
BẠCH ĐỊA
Ô VUÔNG THỨ TÁM
SỰ TĨNH LẶNG TRƯỚC CƠN BÃO
CƠN BÃO
BÍ MẬT
VÁN CỜ KẾT THÚC
CÂU CHUYỆN CỦA NỮ HOÀNG ĐEN
Cờ vua là cuộc đời
BOBBY FISCHER
Đời là một loại cờ vua
BENJAMIN FRANKLIN
PHÒNG VỆ
Các nhân vật thường có khuynh hướng hoặc tán đồng, hoặc chống lại cuộc
tìm kiếm. Nếu ủng hộ, họ sẽ được lý tưởng hóa thành những con người
lịch lãm và trong sáng tuyệt đối; nếu tìm cách ngăn cản, họ sẽ bị mô tả
không khác gì những kẻ hoàn toàn đểu giả hay hèn nhát.
Vì lẽ đó bất cứ nhân vật điển hình nào ... cũng thường đương đầu với một
nhân vật đối lập anh ta về mặt đạo đức, như những quân đen và trắng trong
một ván cờ.
- Giải phẫu Phê bình - Northrop Frye
TU VIỆN MONTGLANE, PHÁP
Mùa xuân năm 1790
Một nhóm nữ tu băng qua đường, những chiếc khăn trùm đầu nhàu nát của
họ nhẹ bay chấp chới như cánh hải âu. Khi các cô lướt qua những vòm
cổng đá cao vòi vọi của thành phố, đàn gà con và mấy chú ngỗng te tái
tránh lối, vỗ cánh loạn xạ, bì bõm lội qua vũng bùn. Các nữ tu bước trong
làn sương mù u ám vẫn bao phủ thung lũng mỗi sớm tinh mơ và từng cặp
sóng đôi lặng thinh đi về phía tiếng chuông trầm lắng, ngân lên từ những
quả đồi trên kia.
Họ gọi mùa xuân này là le Printemps Sanglant, theo tiếng Pháp, có nghĩa
Mùa Xuân Đẫm Máu. Năm đó anh đào đơm hoa sớm, còn lâu tuyết trên
các đỉnh núi cao mới tan. Những cành cây mảnh khảnh oằn cong xuống đất
bởi sức nặng của những đóa hoa đỏ tươi ướt đẫm. Có người nói anh đào
nở rộ sớm vậy là điềm lành, biểu tượng của sự hồi sinh sau một mùa đông
khắc nghiệt và dài đằng đẵng. Nhưng rồi những cơn mưa giá rét kéo đến
và làm đông cứng các khóm hoa trên cành, khiến thung lũng bị vùi sâu
trong sắc hoa đỏ nhuốm những vệt sương nâu. Như thể vết thương bết máu
khô. Và người ta nói đây là một dấu hiệu khác thường.
Cao ngất ngưởng phía trên thung lũng, tu viện Montglane nhô lên sừng
sững như mỏm đá khổng lồ trồi ra khỏi đỉnh núi. Công trình kiến trúc
trông như pháo đài kia vẫn tách biệt với thế giới bên ngoài gần cả nghìn
năm nay. Nó có sáu, bảy lớp tường dày chồng lên nhau vì khi những phiến
đá ban đầu bị xói mòn qua nhiều thế kỷ, người ta đặt các lớp tường mới
bên ngoài lớp cũ với những giàn chống đỡ. Kết quả tạo thành một hỗn hợp
kết cấu ảm đạm và chính vẻ ngoài đó ấp ủ nhiều lời đồn đại về chốn này.
Tu viện là kiến trúc nhà thờ cổ kính nhất còn nguyên vẹn ở Pháp, và nơi
đây cất giữ một lời nguyền cổ xưa sắp được đánh thức lần nữa.
Khi cái họng chuông đen ngòm vang vọng khắp thung lũng, những nữ tu sĩ
còn lại, từng người, từng người một, rời mắt khỏi công việc, để những
chiếc cào, chiếc cuốc sang một bên. Họ bước qua những rặng cây anh đào
trải dài đối xứng hai bên lối đi để trèo lên con dốc ngược trở về tu viện.
Ở cuối đoàn người dài lê thê, hai nữ tu trẻ mới vào viện, Valentine và
Mireille, khoác tay nhau lê bước rón rén trong những chiếc ủng lấm lem
bùn. Họ đã tạo thành một phần lạc lõng bổ sung vào hàng ngũ trật tự của
các nữ tu. Mireille cao lớn, tóc đỏ với đôi chân dài và bờ vai rộng, trông
giống cô nông dân khoẻ mạnh hơn là tu sĩ. Cô đeo một cái tạp dề lớn bên
ngoài chiếc áo và những lọn tóc quăn đỏ ló ra lơ thơ bên dưới khăn trùm.
Bên cạnh Mireille, Valentine mặc dù cao gần bằng nhưng có vẻ mỏng manh
ẻo lả. Làn da nhợt nhạt của Valentine nom cứ như trong suốt, nước da trắng
được tôn thêm lên nhờ mái tóc vàng nhạt rũ xuống vai. Cô đã nhét chiếc
khăn trùm đầu vào túi áo, và miễn cưỡng bước đi bên cạnh Mireille, vừa đi
vừa đá ủng vào bùn.
Hai cô gái trẻ này, những tu sĩ nhỏ tuổi nhất ở tu viện, là chị em họ bên
ngoại. Cả hai đêu mồ côi từ nhỏ sau trận đại dịch khủng khiếp đã tàn phá
nước Pháp. Bá tước de Remy già nua, ông ngoại Valentine, đã phó thác hai
cô cho nhà thờ trước lúc ông qua đời, để lại số di sản khá lớn bảo đảm
cuộc sống cho hai cô cháu gái.
Hoàn cảnh giáo dưỡng hình thành nên một sự gắn bó khăng khít giữa hai cô
gái. Cả hai đều ngập tràn vẻ hân hoan vô bờ của tuổi trẻ. Tu viện trưởng
thường nghe thấy vài nữ tu lớn tuổi phàn nàn rằng lối sống này chẳng phù
hợp chút nào với cuộc đời ẩn dật tại một nhà tu kín, nhưng bà cũng hiểu
rằng kiềm chế sức sống của tuổi trẻ thì tốt hơn là tìm cách bóp nghẹt nó.
Và người viện trưởng cũng cảm thấy có đôi chút thiên vị dành cho hai chị
em côi cút, một tình cảm khác thường so với cả tính cách lẫn địa vị của bà.
Các nữ tu đứng tuổi hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng bản thân viện trưởng
thuở thiếu thời đã duy trì một tình bạn sâu sắc như thế với một cô gái. Hai
người đã tách biệt nhau nhiều năm trời và xa cách hàng ngàn dặm.
Lúc này, trên dốc mòn, Mireille đang nhét những lọn tóc đỏ bướng bỉnh trở
vào dưới tấm khăn trùm đầu và giật mạnh cánh tay cô em họ trong khi lên
lớp về tội chậm trễ.
"Nếu em vẫn cứ lề mề nấn ná mãi, Mẹ Bề Trên sẽ lại quở phạt chúng ta",
cô nói.
Valentine vùng khỏi tay chị và xoay một vòng. "Trái đất đang đắm chìm
trong cảnh sắc mùa xuân", cô hò reo, đung đưa hai cánh tay và suýt nữa lộn
nhào xuống vách đá dựng đứng. Mireille vội kéo cô lôi đi dọc theo bờ vực
cheo leo. "Cớ sao chúng ta phải giam mình trong cái tu viện ngột ngạt buồn
tẻ ấy khi mọi vật ngoài kia đang căng tràn nhựa sống ?"
"Vì chúng ta là những nữ tu", Mireille bĩu môi vặc lại, gấp gáp bước đi,
bàn tay bấtu chặt cánh tay Valentine. "Và nghĩa vụ của chúng ta là nguyện
cầu cho nhân loại". Nhưng làn sương mờ ấm áp dâng lên từ đáy thung lũng
đã mang theo mùi thơm ngào ngạt đến nỗi mọi thứ xung quanh đều ngát
hương hoa anh đào nở rộ. Mireille cố gắng không đế ý tới nỗi xốn xang
mà cảnh vật nơi đây dấy lên trong cô.
"Ơn Chúa, chúng ta chưa phải là nữ tu", Valentine nói. "Chúng ta vẫn chỉ là
những người mới tu chừng nào còn chưa tuyên thệ. Chẳng bao giờ quá
muộn để được cứu rỗi. Em đã nghe thấy các nữ tu lớn tuổi thì thào với
nhau rằng hiện các tên lính đang lúc nhúc khắp nơi trên đất Pháp, đánh cắp
kho báu của các tu viện, vây bắt các nhà tu hành và tống họ về Paris. Có thể
một vài tên lính cũng sẽ đến đây và bắt em về Paris. Rồi họ đưa em đi xem
nhạc kịch mỗi đêm, và uống sâm banh từ chiếc giày của em !"
"Những người lính chẳng phải lúc nào cũng mê ly như em mơ mộng đâu",
Mireille nhận xét. "Suy cho cùng, nghề của họ là giết chóc chứ đâu phải
đưa người ta đi xem hát".
"Đó không phải tất cả những gì họ làm", Valentine nói, giọng cô trầm
xuống thành một tiếng thì thào bí hiểm. Họ đã lên đến đỉnh đồi, nơi con
đường trở nên bằng phẳng và thoáng đãng hơn nhiều. Ở đây lát đá phiến
phẳng lỳ giống những con đường cao tốc thênh thang thường thấy ở các
thành phố lớn. Phía bên kia đường, người ta trồng những cây bách lớn nổi
lên trên nền một rừng cây anh đào, trông chúng có cái vẻ trang trọng nhưng
gớm ghiếc, giống như chính cái tu viện này, hết sức lạc lõng.
"Em nghe nói", Valentine ghé sát vào tai cô chị họ thì thầm "rằng lính tráng
thực hiện những hành động đồi bại đối với nữ tu sĩ ! Nếu một tên lính tình
cờ bắt gặp một nữ tu, trong một cánh rừng chẳng hạn, hắn sẽ lập tức lôi một
vật ra khỏi đũng quần, đặt vật ấy vào trong người nữ tu lắc qua lắc lại. Và
thế là khi hắn xong việc, nữ tu sẽ có em bé !"
"Thật là báng bổ !" Mireille thét lên, giằng ra khỏi tay Valentine và cố nén
một nụ cười thoáng trên môi. "Chị nghĩ em thô lổ đến thế là cùng, làm sao
trở thành nữ tu được".
"Đó đúng là điều em đã nói suốt ngay từ đầu", Valentine thú nhận. "Em
thích làm cô dâu của một người lính hơn làm cô dâu của Chúa".
Khi hai chị em tiến đến gần tu viện, họ có thể trông thấy bốn hàng cây
bách sóng đôi ở mỗi lối ra vào và tạo thành hình một dấu thánh giá. Những
thân cây bao bọc quanh hai cô gái khi họ gấp gáp chạy xuyên qua làn
sương mù đang sẫm dần lại. Họ đi qua những cánh cổng tu viện và băng
ngang khoảng sân rộng. Khi họ đến gần những cánh cửa gỗ cao nặng nề
dẫn đến thánh đường chính, tiếng chuông tiếp tục rung lên, chẳng khác gì
hồi chuông báo tử len lỏi qua lớp sương dày đặc.
Từng người dừng lại trước cửa để gạt bùn đất khỏi đế ủng, thoăn thoắt làm
dấu thánh, và bước qua cánh cổng chính đồ sộ. Không ai trong hai cô liếc
nhìn lên dòng mẫu tự tiếng Francs thô sơ khắc vào khung vòm đá gắn trên
cửa, nhưng cô nào cũng biết nó viết gì, như thể những từ ngữ kia đã khắc
sâu vào trái tim các cô:
Nguyền rủa kẻ nào mang những bờ tường này xuống cõi tục.
Nhà vua chỉ bị ngăn cản bởi bàn tay của Chúa mà thôi.
Bên dưới lời đề từ, cái tên được khắc thành những chữ viết lớn rời nhau
'Carolus Magnus'. Ông chính là người tạo ra công trình này và cả lời
nguyền ám lên những ai sẽ phá hủy nơi đây. Đó là nhà cai trị vĩ đại nhất
của Đế chế Francs trong hơn một nghìn năm trước, người được cả nước
Pháp biết đến với danh xưng hoàng đế Charlemagne.
(Charlemagne (Charles ler le Grand), vua của người Francs từ năm 768
đến 814 và là hoàng đế của đế chế Occident từ năm 800 đên 814, được coi
là một trong những ông vua vĩ đại nhất nước Pháp nhờ công thống nhất và
mở rộng lãnh thổ quốc gia.)
Những bức tường phía trong tu viện tối tăm, lạnh lẽo, và ẩm ướt rêu phong.
Từ chính điện bên trong có thể nghe thấy những tiếng thì thầm cầu nguyện
của các tu sĩ mới vào viện cùng tiếng lách cách khe khẽ khi họ lần tràng
kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh, và kinh Lạy Cha. Valentine và Mireille
vội vã đi qua nhà nguyện lúc người cuối cùng trong số những nữ tu mới
vào viện đang quỳ gối khấn vái và hai cô dõi theo tiếng xì xào bàn tán đến
bên một cánh cửa nhỏ phía sau bệ thờ, nơi phòng làm việc riêng của Mẹ Bề
Trên. Một nữ tu lớn tuổi hơn đang hối thúc người tụt lại sau cùng nhanh
nhanh đi vào. Valentine và Mireille đưa mắt nhìn nhau và bước vô.
Bị gọi đến phòng làm việc riêng của nữ tu viện trưởng kiểu này thật kỳ lạ.
Rất ít nữ tu đặt chân đến đây, mà nếu có đến thường là để nhận kỷ luật.
Valentine, người luôn bị trách phạt, rất hay đến đây. Thế nhưng tiếng
chuông tu viện xưa nay vốn để triệu tập tất cả các nữ tu sĩ. Chắc hẳn tất cả
mọi người sao có thể bị gọi đến phòng làm việc của Mẹ Bề Trên nhận hình
phạt cùng một lúc được chứ ?
Khi họ bước vào căn phòng rộng có trần thấp, Valentine và Mireille thấy
tất cả các nữ tu trong viện quả thật đã tề tựu ở đó, cả thảy hơn năm mươi
người. Trên những dãy ghế dài bằng gỗ cứng đối diện bàn viết của nữ tu
viện trưởng, họ ngồi thì thào với nhau. Rõ ràng ai cũng nghĩ đây là một sự
việc khác thường, và những khuôn mặt ngước nhìn lên khi hai cô bước vào
với vẻ mặt hãi hùng. Hai chị em ngồi vào chỗ của họ ở dãy ghế cuối cùng.
Valentine siết chặt tay Mireille.
"Chuyện này là sao ?" Cô thì thào.
"Điềm dữ đây, chị nghĩ vậy", Mireille đáp, giọng cũng thì thầm. "Mẹ Bề
Trên trông có vẻ nghiêm nghị và ở đây có hai phụ nữ chị chưa gặp bao
giờ".
Ở
Ở cuối căn phòng dài, phía sau chiếc bàn đồ sộ bằng gỗ anh đào bóng
loáng, nữ tu viện trưởng đứng đó. Bà nhăn nheo và khô cứng như một
mảnh da khô, nhưng vẫn lộ ra uy quyền của chức vụ to lớn bà đang nắm
giữ. Sắc thái muôn thuở trong điệu bộ của bà gợi lên ý nghĩ từ lâu bà đã
hòa hợp thể xác vào chính tâm hồn mình, nhưng hôm nay trông bà viện
trưởng nghiêm trang hơn bao giờ hết. Từ trước tới giờ, các nữ tu chưa
từng thấy bà như thế lần nào.
Hai người lạ mặt, đều là những phụ nữ trẻ to xương với đôi bàn tay lớn, lù
lù xuất hiện hai bên nữ tu viện trưởng như những thiên thần báo oán. Một
người có làn da tái nhợt, tóc đen và đôi mắt sáng, trong khi người kia mang
những đường nét khỏe mạnh giống Mireille, với nước da trắng mịn và mái
tóc màu nâu hạt dẻ chỉ hơi sẫm hơn những lọn tóc nâu đỏ của Mireille một
chút. Dù cả hai mang dáng dấp những nữ tu nhưng họ không khoác trên
mình y phục tu hành mà mặc những bộ quần áo đi đường màu xám trơn rất
bình thường.
Tu viện trưởng chờ cho tất cả các nữ tu sĩ yên vị và cánh cửa được khép
lại. Khi căn phòng hoàn toàn yên ắng, bà mới bắt đầu nói với chất giọng
bao giờ cũng khiến Valentine nghĩ đến âm thanh chiếc lá khô bị xéo nát.
"Các con của ta", nữ tu viện trưởng nói, chắp hai tay phía trước, "trong gần
một nghìn năm nay, dòng tu Montglane đã trụ vững trên đỉnh núi này, thực
hiện nghĩa vụ của chúng ta đối với nhân loại và phụng sự Chúa. Mặc dù
cách ly khỏi thế gian nhưng chúng ta vẫn nghe thấy những bất bình âm ỉ
trong tình trạng náo động ngoài kia. Tại nơi này, trong cái xó xỉnh nhỏ bé,
chúng ta đã và đang tiếp nhận những tin dữ xảy ra gần đây, nó có thể làm
thay đổi sự chở che an toàn mà chúng ta tận hưởng bấy lâu. Hai người phụ
nữ đứng cạnh ta là những người đưa tin. Ta xin giới thiệu xơ Alexandrine
de Forbin, bà ra dấu về phía người phụ nữ tóc đen, và Marie Charlotte de
Corday, họ cùng nhau điều hành Tu viện các xơ tại tỉnh Caen ở địa phận
miền Bắc. Họ đã đi suốt chiều dài nước Pháp dưới lớp áo cải trang, một
hành trình gian khổ, để đem đến cho chúng ta lời cảnh báo. Vì vậy ta yêu
cầu các con hãy lắng nghe những điều họ nói. Điều đó tối quan trọng đối
với tất cả chúng ta.
Tu viện trưởng ngồi xuống, và người phụ nữ được giới thiệu là
Alexandrine de Forbin hắng giọng, nói nhỏ nhẹ đến nỗi các nữ tu sĩ phải
căng tai lắng nghe. Tuy vậy lời lẽ của cô ta rất rõ ràng.
"Các chị em đạo hữu của ta", cô bắt đầu, "câu chuyện mà chúng tôi phải kể
không dành cho những người nhút nhát. Trong chúng ta có những người
đến với Chúa với hy vọng cứu rỗi nhân loại. Có những người đến đây với
hy vọng thoát ly trần thế. Và cũng có những người miễn cưỡng đến đây,
không hề cảm thấy bất kỳ động lực nào hết". Nói đến đây, cô đưa cặp mắt
đen láy, long lanh về phía Valentine khiến cô này thẹn đỏ cả mặt.
'Bất kể các chị nghĩ mục đích của mình là gì thì nó cũng đã thay đổi, kể từ
hôm nay. Trong hành trình của Charlotte và tôi đã đi dọc suốt chiều dài
nước Pháp, qua Paris và tất cả làng mạc. Chúng tôi đã chứng kiến không
chỉ những người đói khát mà cả những người chết vì đói. Dân chúng đang
nổi loạn trên đường phố để giành giật miếng ăn. Những cảnh tàn sát, đàn
bà vác những chiếc đầu bị cắt lìa cắm trên đỉnh ngọn giáo diễu qua khắp
các khu phố. Những cảnh hiếp dâm, và còn tệ hơn thế. Trẻ nhỏ bị giết,
người lớn bị tra tấn ngay trên các quảng trường và bị phanh thây bởi
những đám đông giận dữ ..." Các nữ tu không còn giữ yên được nữa. Giọng
họ vang lên đầy hốt hoảng trong khi Alexandrine tiếp tục câu chuyện đẫm
máu.
"Bây giờ là tháng tư. Tháng mười năm ngoái, nhà vua và hoàng hậu đã bị
một đám đông phẫn nộ bắt cóc khỏi cung điện Versailles và bị đưa về giam
giữ tại điện Tuilleries ở Paris. Chúng ép nhà vua ký vào một văn kiện, bản
"Tuyên ngôn nhân quyền", tuyên bố quyền bình đẳng cho mọi người. Thực
tế, Quốc hội hiện đang điều hành chính phủ; nhà vua không có quyền can
thiệp. Đất nước chúng ta đã vượt xa tầm một cuộc cách mạng. Chúng ta
đang trong tình trạng vô chính phủ. Tồi tệ hơn nữa, Quốc hội phát hiện
trong ngân khố quốc gia không có vàng; nhà vua đã làm vương quốc khánh
kiệt. Ở Paris, người ta tin rằng nhà vua sẽ không sống sót qua năm nay".
Cơn chấn động lướt qua những dãy ghế của các nữ tu, và tiếng xì xào sửng
sốt râm ran khắp gian phòng. Mireille siết nhẹ bàn tay Valentine trong khi
cả hai đều nhìn chằm chằm vào người nói. Những phụ nữ trong căn phòng
này chưa bao giờ nghe thấy những ý nghĩ kiểu đó được phát biểu lớn
tiếng, và họ cũng không thể hình dung những điều như vậy là có thật. Tra
tấn, vô chính phủ, giết vua. Sao có thể thế được ?
Viện trưởng đập tay xuống mặt bàn yêu cầu giữ trật tự, và các nữ tu sĩ im
bặt. Bấy giờ Alexandrine ngồi vào chỗ, còn xơ Charlotte đứng một mình
cạnh bàn. Giọng nói của xơ to và mạnh mẽ.
"Trong Quốc hội có một kẻ cực kỳ xấu xa. Mặc dù tự nhận mình là thành
viên của giới tăng lữ nhưng hắn rất khao khát quyền lực. Y chính là giám
mục địa phận Autun. Trong thâm tâm, những người thuộc Giáo hội La Mã
tin rằng hắn là hiện thân của ma quỷ. Họ nói hắn sinh ra đã có móng chân
chẻ đôi, biểu tượng của cái ác, rằng hắn uống máu con nít để giữ vẻ trẻ
trung, rằng hắn cử hành lễ Đen cầu xin quỷ Satăng. Vào tháng mười, tên
giám mục này đề xuất với Quốc hội cho Nhà nước tịch thu toàn bộ tài sản
của Nhà thờ. Ngày hai tháng mười một, dự luật Tịch Biên của hắn được
Mirabeau, một chính khách cấp cao, ủng hộ trước quốc hội, và đã được
thông qua. Ngày mười ba tháng hai, công cuộc tịch thu bắt đầu. Bất cứ
tăng ni nào chống đối cũng đều bị bắt giam. Và ngày mười sáu tháng hai,
tên giám mục của vùng Autun ấy được bầu làm chủ tịch Quốc hội. Giờ đây
chẳng gì có thể ngăn hắn lại được".
Các nữ tu sĩ đang trong tâm trạng cực kỳ kích động, họ cất cao giọng kêu
than kinh hãi và cực lực phản đối, nhưng giọng Charlotte vang vọng trên
hết.
"Khá lâu trước khi đưa ra dự luật Tịch Biên, giám mục Autun đã mở những
cuộc điều tra về nơi cất giữ tài sản của Giáo hội ở Pháp. Mặc dù bản dự
luật ghi rõ các linh mục bị tước vị trước và các nữ tu sĩ được tha nhưng
chúng tôi biết tên giám mục đó đã để mắt tới tu viện Montglane. Nhiều
cuộc điều tra của y tập trung nhắm vào xung quanh Montglane này. Chúng
tôi vội vã đến đây báo cho các chị biết chuyện này. Kho báu của Montglane
không được để rơi vào tay hắn".
Nữ tu viện trưởng đứng đó, đặt tay lên bờ vai vững chãi của Charlotte
Corday. Bà nhìn khắp lượt các hàng ghế nữ tu trong những bộ trang phục
đen, những chiếc nón hồ cứng của họ rập rờn dưới kia như mặt biển đầy
hải âu hoang dã, và bà nở một nụ cười. Đây là các con chiên của bà, những
người bà đã dẫn dắt từ rất lâu và có thể bà sẽ không được gặp lại họ trong
đời một khi tiết lộ điều buộc phải nói ra.
"Giờ thì các con đã nắm được tình cảnh như ta", viện trưởng nói. "Mặc dù
đã biết từ nhiều tháng nay về số kiếp của chúng ta nhưng ta vẫn không
muốn nói làm các con lo sợ, đến khi nào ta chọn được một hướng đi. Trên
hành trình đáp lại lời kêu gọi, các xơ ở Caen đã chứng thực nỗi hãi hùng
tồi tệ nhất của ta". Các nữ tu lúc này đã rơi vào một sự im lặng chết người.
Không thể nghe thấy một âm thanh nào ngoài giọng nói của nữ tu viện
trưởng.
"Ta là một bà già có thể sẽ được gọi về với Chúa sớm hơn hình dung. Lời
thề nguyện của ta khi bắt đầu cai quản tu viện này không chỉ là lời thề với
Chúa. Gần bốn mươi năm trước, lúc trở thành nữ tu viện trưởng của
Montglane, ta đã thề giữ kín một bí mật, nếu cần có thể hy sinh cả tính
mạng để bảo toàn nó. Bây giờ đến lúc ta thực hiện lời thề này. Nhưng ta
phải chia sẻ một vài điều của bí mật với từng người các con và đến lượt
các con phải thề giữ kín. Câu chuyện của ta dài, và các con phải kiên nhẫn
nếu ta có nói chậm rãi. Khi ta kể xong, các con sẽ biết tại sao từng người
trong chúng ta buộc phải làm những điều tất yếu".
Nữ tu viện trưởng tạm ngừng để nhấp một ngụm nước trong chiếc cốc lễ
bằng bạc đặt trên bàn trước mặt rồi nói tiếp.
Hôm nay là ngày bốn tháng tư năm 1790 sau Công nguyên. Câu chuyện
của ta bắt đầu vào một ngày bốn tháng tư cách đây nhiều năm. Người tiên
nhiệm đã kể ta nghe, như thông lệ bao đời nay từ khi tu viện ra đời, viện
trưởng sẽ truyền lại câu chuyện cho người kế nghiệp trong buổi lễ thác vị.
Và bây giờ ta kể các con nghe...
CÂU CHUYỆN CỦA NỮ VIỆN TRƯỞNG
Ngày bốn tháng tư năm 782, một lễ hội tưng bừng đã được tổ chức tại
Đông cung ở Aachen kỷ niệm lần thứ bốn mươi ngày sinh của nhà vua
Charlemagne vĩ đại. Ngài triệu tập toàn thể tầng lớp quý tộc đến chính
điện, nơi có mái vòm chạm trổ và những bậc thang uốn quanh thành hàng,
ngoài ban công xếp đầy những cây cọ nhập khẩu và được trang hoàng các
vòng hoa lộng lẫy. Đàn hạc và đàn luýt réo rắt trong các đại sảnh giữa
những chiếc đèn lồng bằng vàng và bạc. Các vị quần thần, xúng xính trong
những bộ ngự bào màu tía, màu vàng và đỏ thẫm, đi đi lại lại giữa chốn
thần tiên của các nghệ sĩ tung hứng, các anh hề, và những màn trình diễn
múa rối). Gấu, sư tử, hươu cao cổ hoang dã và vài lồng bồ câu được đưa
vào sân rồng. Cuộc vui tưng bừng nhộn nhịp kéo dài hàng tuần chờ đón
sinh nhật nhà vua.
Đỉnh cao của lễ hội vào đúng ngày sinh nhật nhà vua. Sáng hôm ấy, Ngài
ngự giá đến sân rồng chính điện với mười tám người con, hoàng hậu, và
các cận thần được sủng ái ríu rít vây quanh. Charlemagne là một người cao
lớn quá khổ với vẻ phong sương của một hiệp sĩ và một tay bơi lội. Làn da
rám nắng, mái tóc và bộ râu hoe vàng dưới ánh mặt trời, trông Ngài hệt
như chiến binh và là người cai trị vương quốc rộng lớn nhất thế giới.
Khoác một tấm áo len dài giản dị có dây thắt ngang lưng cùng chiếc áo
khoác bằng da lông chồn mactet vừa sát người và đeo thanh gươm muôn
thuở, nhà vua băng qua sân rồng, hân hoan chào mừng thần dân và mời họ
tự nhiên thưởng thức các món ăn thịnh soạn được dọn lên đầy ắp những
chiếc bàn lớn quanh đại sảnh.
Nhà vua đã chuẩn bị một điều thú vị đặc biệt cho ngày trọng đại này. Là
bậc thầy về chiến lược quân sự, ngài cực kỳ say mê một trò chơi. Trò chơi
của chiến tranh, trò chơi của vua chúa, đó chính là môn cờ vua. Nhân dịp
sinh nhật thứ bốn mươi của mình, Charlemagne đề nghị so tài với tay cờ
xuất sắc nhất vương quốc, anh lính mang tên Garin Người Cương Trực.
Garin tiến vào sân rồng trong tiếng kèn trompet vang vang. Những nghệ sĩ
nhào lộn nhảy nhót trước mặt anh còn các cô gái rải những lá cọ và cánh
hoa hồng trên lối đi. Garin là một thanh niên mảnh khảnh, nước da xanh tái
với sắc thái nghiêm trang và đôi mắt xám, anh là binh lính trong quân đội
miền Tây. Anh quỳ xuống khi nhà vua đứng dậy chào đón anh.
Bộ quân cờ được đưa vào đại sảnh trên vai tám tên đầy tớ da đen mặc
những bộ chế phục kiểu Ma-rốc. Những người hầu này và cả bàn cờ vua
họ đang khiêng trên đầu là món quà do Ibn-al-Arabi, thủ lĩnh Hồi giáo của
Barcelona gửi tặng để tỏ lòng cảm ơn sự trợ giúp của nhà vua trong cuộc
chiến chống lại người Basque (miền Tây Pyrenees, thuộc Đông Bắc Tây
Ban Nha) ở vùng núi Pyrenees bốn năm về trước. Chính trong quá trình lui
binh của trận đánh vang danh ấy, người lính Hruoland được nhà vua quý
mến đã tử trận tại đèo Roncesvalles (thị trấn Tây Ban Nha) ở Navarre
(vùng lịch sử của Tây ban Nha, nằm kẹp giữa những dãy núi của Pyrenees
và các ngọn núi Iberiques) và hóa thân thành nhân vật chính trong tác phẩm
"Bài ca Roland". Do liên tưởng đến sự việc đau lòng đó nên nhà vua đã
không bao giờ chơi trên bộ bàn cờ ấy nữa, và cũng không bao giờ mang nó
ra trước mặt thần dân của mình nữa.
Cả triều đình lấy làm kinh ngạc trước vẻ tráng lệ của bộ cờ khi nó được
đặt lên một chiếc bàn trong sân rồng. Mặc dù được chế tác dưới tay những
bậc thầy thợ thủ công Ả Rập nhưng các quân cờ vẫn mang dấu tích tổ tiên
Ấn Độ và Ba Tư. Vài người tin rằng môn cờ vua đã có mặt tại Ấn Độ hơn
bốn trăm năm trước khi Ch
Katherine Neville & Nguyễn Lâm Xuân Các
NXB Văn Hóa Thông Tin (2021)
Từ khóa: Best Seller, Trinh Thám, Tiểu Thuyết
THE INTERNATIONAL BESTSELLER
KATHERINE NEVILLE
Bí ẩn bộ cờ Montglane
NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN LÂM XUÂN CÁC
Thực hiện ebook: page Duyên sách
NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN
HÀ NỘI 2008
Table of Contents
PHÒNG VỆ
QUÂN TỐT TIẾN ĐẾN Ở BỐN CÁNH HẬU
MỘT NƯỚC CỜ KÍN ĐÁO
FIANCHETTO
MỘT VÁN CỜ
CUỘC TRAO ĐỔI CỦA CÁC BÀ HOÀNG
BÁNH XE CỦA HIỆP SĨ
CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA KỴ SĨ
HY SINH
BẪY CỜ NĨA
QUÂN TỐT TIẾN LÊN
TRỌNG TÂM BÀN CỜ
TRẬN ĐẤU CHÍNH GIỮA
HÒN ĐẢO NHỎ
PHÂN TÍCH VỊ TRÍ
TIẾNG NÓI CỦA SA MẠC
NHỮNG NGỌN NÚI THẦN KỲ
LÂU ĐÀI
CÁI CHẾT CỦA NHỮNG VỊ VUA
NỮ HOÀNG ĐEN
LỤC ĐỊA THẤT LẠC
ZUGZWANG
BẠCH ĐỊA
Ô VUÔNG THỨ TÁM
SỰ TĨNH LẶNG TRƯỚC CƠN BÃO
CƠN BÃO
BÍ MẬT
VÁN CỜ KẾT THÚC
CÂU CHUYỆN CỦA NỮ HOÀNG ĐEN
Cờ vua là cuộc đời
BOBBY FISCHER
Đời là một loại cờ vua
BENJAMIN FRANKLIN
PHÒNG VỆ
Các nhân vật thường có khuynh hướng hoặc tán đồng, hoặc chống lại cuộc
tìm kiếm. Nếu ủng hộ, họ sẽ được lý tưởng hóa thành những con người
lịch lãm và trong sáng tuyệt đối; nếu tìm cách ngăn cản, họ sẽ bị mô tả
không khác gì những kẻ hoàn toàn đểu giả hay hèn nhát.
Vì lẽ đó bất cứ nhân vật điển hình nào ... cũng thường đương đầu với một
nhân vật đối lập anh ta về mặt đạo đức, như những quân đen và trắng trong
một ván cờ.
- Giải phẫu Phê bình - Northrop Frye
TU VIỆN MONTGLANE, PHÁP
Mùa xuân năm 1790
Một nhóm nữ tu băng qua đường, những chiếc khăn trùm đầu nhàu nát của
họ nhẹ bay chấp chới như cánh hải âu. Khi các cô lướt qua những vòm
cổng đá cao vòi vọi của thành phố, đàn gà con và mấy chú ngỗng te tái
tránh lối, vỗ cánh loạn xạ, bì bõm lội qua vũng bùn. Các nữ tu bước trong
làn sương mù u ám vẫn bao phủ thung lũng mỗi sớm tinh mơ và từng cặp
sóng đôi lặng thinh đi về phía tiếng chuông trầm lắng, ngân lên từ những
quả đồi trên kia.
Họ gọi mùa xuân này là le Printemps Sanglant, theo tiếng Pháp, có nghĩa
Mùa Xuân Đẫm Máu. Năm đó anh đào đơm hoa sớm, còn lâu tuyết trên
các đỉnh núi cao mới tan. Những cành cây mảnh khảnh oằn cong xuống đất
bởi sức nặng của những đóa hoa đỏ tươi ướt đẫm. Có người nói anh đào
nở rộ sớm vậy là điềm lành, biểu tượng của sự hồi sinh sau một mùa đông
khắc nghiệt và dài đằng đẵng. Nhưng rồi những cơn mưa giá rét kéo đến
và làm đông cứng các khóm hoa trên cành, khiến thung lũng bị vùi sâu
trong sắc hoa đỏ nhuốm những vệt sương nâu. Như thể vết thương bết máu
khô. Và người ta nói đây là một dấu hiệu khác thường.
Cao ngất ngưởng phía trên thung lũng, tu viện Montglane nhô lên sừng
sững như mỏm đá khổng lồ trồi ra khỏi đỉnh núi. Công trình kiến trúc
trông như pháo đài kia vẫn tách biệt với thế giới bên ngoài gần cả nghìn
năm nay. Nó có sáu, bảy lớp tường dày chồng lên nhau vì khi những phiến
đá ban đầu bị xói mòn qua nhiều thế kỷ, người ta đặt các lớp tường mới
bên ngoài lớp cũ với những giàn chống đỡ. Kết quả tạo thành một hỗn hợp
kết cấu ảm đạm và chính vẻ ngoài đó ấp ủ nhiều lời đồn đại về chốn này.
Tu viện là kiến trúc nhà thờ cổ kính nhất còn nguyên vẹn ở Pháp, và nơi
đây cất giữ một lời nguyền cổ xưa sắp được đánh thức lần nữa.
Khi cái họng chuông đen ngòm vang vọng khắp thung lũng, những nữ tu sĩ
còn lại, từng người, từng người một, rời mắt khỏi công việc, để những
chiếc cào, chiếc cuốc sang một bên. Họ bước qua những rặng cây anh đào
trải dài đối xứng hai bên lối đi để trèo lên con dốc ngược trở về tu viện.
Ở cuối đoàn người dài lê thê, hai nữ tu trẻ mới vào viện, Valentine và
Mireille, khoác tay nhau lê bước rón rén trong những chiếc ủng lấm lem
bùn. Họ đã tạo thành một phần lạc lõng bổ sung vào hàng ngũ trật tự của
các nữ tu. Mireille cao lớn, tóc đỏ với đôi chân dài và bờ vai rộng, trông
giống cô nông dân khoẻ mạnh hơn là tu sĩ. Cô đeo một cái tạp dề lớn bên
ngoài chiếc áo và những lọn tóc quăn đỏ ló ra lơ thơ bên dưới khăn trùm.
Bên cạnh Mireille, Valentine mặc dù cao gần bằng nhưng có vẻ mỏng manh
ẻo lả. Làn da nhợt nhạt của Valentine nom cứ như trong suốt, nước da trắng
được tôn thêm lên nhờ mái tóc vàng nhạt rũ xuống vai. Cô đã nhét chiếc
khăn trùm đầu vào túi áo, và miễn cưỡng bước đi bên cạnh Mireille, vừa đi
vừa đá ủng vào bùn.
Hai cô gái trẻ này, những tu sĩ nhỏ tuổi nhất ở tu viện, là chị em họ bên
ngoại. Cả hai đêu mồ côi từ nhỏ sau trận đại dịch khủng khiếp đã tàn phá
nước Pháp. Bá tước de Remy già nua, ông ngoại Valentine, đã phó thác hai
cô cho nhà thờ trước lúc ông qua đời, để lại số di sản khá lớn bảo đảm
cuộc sống cho hai cô cháu gái.
Hoàn cảnh giáo dưỡng hình thành nên một sự gắn bó khăng khít giữa hai cô
gái. Cả hai đều ngập tràn vẻ hân hoan vô bờ của tuổi trẻ. Tu viện trưởng
thường nghe thấy vài nữ tu lớn tuổi phàn nàn rằng lối sống này chẳng phù
hợp chút nào với cuộc đời ẩn dật tại một nhà tu kín, nhưng bà cũng hiểu
rằng kiềm chế sức sống của tuổi trẻ thì tốt hơn là tìm cách bóp nghẹt nó.
Và người viện trưởng cũng cảm thấy có đôi chút thiên vị dành cho hai chị
em côi cút, một tình cảm khác thường so với cả tính cách lẫn địa vị của bà.
Các nữ tu đứng tuổi hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng bản thân viện trưởng
thuở thiếu thời đã duy trì một tình bạn sâu sắc như thế với một cô gái. Hai
người đã tách biệt nhau nhiều năm trời và xa cách hàng ngàn dặm.
Lúc này, trên dốc mòn, Mireille đang nhét những lọn tóc đỏ bướng bỉnh trở
vào dưới tấm khăn trùm đầu và giật mạnh cánh tay cô em họ trong khi lên
lớp về tội chậm trễ.
"Nếu em vẫn cứ lề mề nấn ná mãi, Mẹ Bề Trên sẽ lại quở phạt chúng ta",
cô nói.
Valentine vùng khỏi tay chị và xoay một vòng. "Trái đất đang đắm chìm
trong cảnh sắc mùa xuân", cô hò reo, đung đưa hai cánh tay và suýt nữa lộn
nhào xuống vách đá dựng đứng. Mireille vội kéo cô lôi đi dọc theo bờ vực
cheo leo. "Cớ sao chúng ta phải giam mình trong cái tu viện ngột ngạt buồn
tẻ ấy khi mọi vật ngoài kia đang căng tràn nhựa sống ?"
"Vì chúng ta là những nữ tu", Mireille bĩu môi vặc lại, gấp gáp bước đi,
bàn tay bấtu chặt cánh tay Valentine. "Và nghĩa vụ của chúng ta là nguyện
cầu cho nhân loại". Nhưng làn sương mờ ấm áp dâng lên từ đáy thung lũng
đã mang theo mùi thơm ngào ngạt đến nỗi mọi thứ xung quanh đều ngát
hương hoa anh đào nở rộ. Mireille cố gắng không đế ý tới nỗi xốn xang
mà cảnh vật nơi đây dấy lên trong cô.
"Ơn Chúa, chúng ta chưa phải là nữ tu", Valentine nói. "Chúng ta vẫn chỉ là
những người mới tu chừng nào còn chưa tuyên thệ. Chẳng bao giờ quá
muộn để được cứu rỗi. Em đã nghe thấy các nữ tu lớn tuổi thì thào với
nhau rằng hiện các tên lính đang lúc nhúc khắp nơi trên đất Pháp, đánh cắp
kho báu của các tu viện, vây bắt các nhà tu hành và tống họ về Paris. Có thể
một vài tên lính cũng sẽ đến đây và bắt em về Paris. Rồi họ đưa em đi xem
nhạc kịch mỗi đêm, và uống sâm banh từ chiếc giày của em !"
"Những người lính chẳng phải lúc nào cũng mê ly như em mơ mộng đâu",
Mireille nhận xét. "Suy cho cùng, nghề của họ là giết chóc chứ đâu phải
đưa người ta đi xem hát".
"Đó không phải tất cả những gì họ làm", Valentine nói, giọng cô trầm
xuống thành một tiếng thì thào bí hiểm. Họ đã lên đến đỉnh đồi, nơi con
đường trở nên bằng phẳng và thoáng đãng hơn nhiều. Ở đây lát đá phiến
phẳng lỳ giống những con đường cao tốc thênh thang thường thấy ở các
thành phố lớn. Phía bên kia đường, người ta trồng những cây bách lớn nổi
lên trên nền một rừng cây anh đào, trông chúng có cái vẻ trang trọng nhưng
gớm ghiếc, giống như chính cái tu viện này, hết sức lạc lõng.
"Em nghe nói", Valentine ghé sát vào tai cô chị họ thì thầm "rằng lính tráng
thực hiện những hành động đồi bại đối với nữ tu sĩ ! Nếu một tên lính tình
cờ bắt gặp một nữ tu, trong một cánh rừng chẳng hạn, hắn sẽ lập tức lôi một
vật ra khỏi đũng quần, đặt vật ấy vào trong người nữ tu lắc qua lắc lại. Và
thế là khi hắn xong việc, nữ tu sẽ có em bé !"
"Thật là báng bổ !" Mireille thét lên, giằng ra khỏi tay Valentine và cố nén
một nụ cười thoáng trên môi. "Chị nghĩ em thô lổ đến thế là cùng, làm sao
trở thành nữ tu được".
"Đó đúng là điều em đã nói suốt ngay từ đầu", Valentine thú nhận. "Em
thích làm cô dâu của một người lính hơn làm cô dâu của Chúa".
Khi hai chị em tiến đến gần tu viện, họ có thể trông thấy bốn hàng cây
bách sóng đôi ở mỗi lối ra vào và tạo thành hình một dấu thánh giá. Những
thân cây bao bọc quanh hai cô gái khi họ gấp gáp chạy xuyên qua làn
sương mù đang sẫm dần lại. Họ đi qua những cánh cổng tu viện và băng
ngang khoảng sân rộng. Khi họ đến gần những cánh cửa gỗ cao nặng nề
dẫn đến thánh đường chính, tiếng chuông tiếp tục rung lên, chẳng khác gì
hồi chuông báo tử len lỏi qua lớp sương dày đặc.
Từng người dừng lại trước cửa để gạt bùn đất khỏi đế ủng, thoăn thoắt làm
dấu thánh, và bước qua cánh cổng chính đồ sộ. Không ai trong hai cô liếc
nhìn lên dòng mẫu tự tiếng Francs thô sơ khắc vào khung vòm đá gắn trên
cửa, nhưng cô nào cũng biết nó viết gì, như thể những từ ngữ kia đã khắc
sâu vào trái tim các cô:
Nguyền rủa kẻ nào mang những bờ tường này xuống cõi tục.
Nhà vua chỉ bị ngăn cản bởi bàn tay của Chúa mà thôi.
Bên dưới lời đề từ, cái tên được khắc thành những chữ viết lớn rời nhau
'Carolus Magnus'. Ông chính là người tạo ra công trình này và cả lời
nguyền ám lên những ai sẽ phá hủy nơi đây. Đó là nhà cai trị vĩ đại nhất
của Đế chế Francs trong hơn một nghìn năm trước, người được cả nước
Pháp biết đến với danh xưng hoàng đế Charlemagne.
(Charlemagne (Charles ler le Grand), vua của người Francs từ năm 768
đến 814 và là hoàng đế của đế chế Occident từ năm 800 đên 814, được coi
là một trong những ông vua vĩ đại nhất nước Pháp nhờ công thống nhất và
mở rộng lãnh thổ quốc gia.)
Những bức tường phía trong tu viện tối tăm, lạnh lẽo, và ẩm ướt rêu phong.
Từ chính điện bên trong có thể nghe thấy những tiếng thì thầm cầu nguyện
của các tu sĩ mới vào viện cùng tiếng lách cách khe khẽ khi họ lần tràng
kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh, và kinh Lạy Cha. Valentine và Mireille
vội vã đi qua nhà nguyện lúc người cuối cùng trong số những nữ tu mới
vào viện đang quỳ gối khấn vái và hai cô dõi theo tiếng xì xào bàn tán đến
bên một cánh cửa nhỏ phía sau bệ thờ, nơi phòng làm việc riêng của Mẹ Bề
Trên. Một nữ tu lớn tuổi hơn đang hối thúc người tụt lại sau cùng nhanh
nhanh đi vào. Valentine và Mireille đưa mắt nhìn nhau và bước vô.
Bị gọi đến phòng làm việc riêng của nữ tu viện trưởng kiểu này thật kỳ lạ.
Rất ít nữ tu đặt chân đến đây, mà nếu có đến thường là để nhận kỷ luật.
Valentine, người luôn bị trách phạt, rất hay đến đây. Thế nhưng tiếng
chuông tu viện xưa nay vốn để triệu tập tất cả các nữ tu sĩ. Chắc hẳn tất cả
mọi người sao có thể bị gọi đến phòng làm việc của Mẹ Bề Trên nhận hình
phạt cùng một lúc được chứ ?
Khi họ bước vào căn phòng rộng có trần thấp, Valentine và Mireille thấy
tất cả các nữ tu trong viện quả thật đã tề tựu ở đó, cả thảy hơn năm mươi
người. Trên những dãy ghế dài bằng gỗ cứng đối diện bàn viết của nữ tu
viện trưởng, họ ngồi thì thào với nhau. Rõ ràng ai cũng nghĩ đây là một sự
việc khác thường, và những khuôn mặt ngước nhìn lên khi hai cô bước vào
với vẻ mặt hãi hùng. Hai chị em ngồi vào chỗ của họ ở dãy ghế cuối cùng.
Valentine siết chặt tay Mireille.
"Chuyện này là sao ?" Cô thì thào.
"Điềm dữ đây, chị nghĩ vậy", Mireille đáp, giọng cũng thì thầm. "Mẹ Bề
Trên trông có vẻ nghiêm nghị và ở đây có hai phụ nữ chị chưa gặp bao
giờ".
Ở
Ở cuối căn phòng dài, phía sau chiếc bàn đồ sộ bằng gỗ anh đào bóng
loáng, nữ tu viện trưởng đứng đó. Bà nhăn nheo và khô cứng như một
mảnh da khô, nhưng vẫn lộ ra uy quyền của chức vụ to lớn bà đang nắm
giữ. Sắc thái muôn thuở trong điệu bộ của bà gợi lên ý nghĩ từ lâu bà đã
hòa hợp thể xác vào chính tâm hồn mình, nhưng hôm nay trông bà viện
trưởng nghiêm trang hơn bao giờ hết. Từ trước tới giờ, các nữ tu chưa
từng thấy bà như thế lần nào.
Hai người lạ mặt, đều là những phụ nữ trẻ to xương với đôi bàn tay lớn, lù
lù xuất hiện hai bên nữ tu viện trưởng như những thiên thần báo oán. Một
người có làn da tái nhợt, tóc đen và đôi mắt sáng, trong khi người kia mang
những đường nét khỏe mạnh giống Mireille, với nước da trắng mịn và mái
tóc màu nâu hạt dẻ chỉ hơi sẫm hơn những lọn tóc nâu đỏ của Mireille một
chút. Dù cả hai mang dáng dấp những nữ tu nhưng họ không khoác trên
mình y phục tu hành mà mặc những bộ quần áo đi đường màu xám trơn rất
bình thường.
Tu viện trưởng chờ cho tất cả các nữ tu sĩ yên vị và cánh cửa được khép
lại. Khi căn phòng hoàn toàn yên ắng, bà mới bắt đầu nói với chất giọng
bao giờ cũng khiến Valentine nghĩ đến âm thanh chiếc lá khô bị xéo nát.
"Các con của ta", nữ tu viện trưởng nói, chắp hai tay phía trước, "trong gần
một nghìn năm nay, dòng tu Montglane đã trụ vững trên đỉnh núi này, thực
hiện nghĩa vụ của chúng ta đối với nhân loại và phụng sự Chúa. Mặc dù
cách ly khỏi thế gian nhưng chúng ta vẫn nghe thấy những bất bình âm ỉ
trong tình trạng náo động ngoài kia. Tại nơi này, trong cái xó xỉnh nhỏ bé,
chúng ta đã và đang tiếp nhận những tin dữ xảy ra gần đây, nó có thể làm
thay đổi sự chở che an toàn mà chúng ta tận hưởng bấy lâu. Hai người phụ
nữ đứng cạnh ta là những người đưa tin. Ta xin giới thiệu xơ Alexandrine
de Forbin, bà ra dấu về phía người phụ nữ tóc đen, và Marie Charlotte de
Corday, họ cùng nhau điều hành Tu viện các xơ tại tỉnh Caen ở địa phận
miền Bắc. Họ đã đi suốt chiều dài nước Pháp dưới lớp áo cải trang, một
hành trình gian khổ, để đem đến cho chúng ta lời cảnh báo. Vì vậy ta yêu
cầu các con hãy lắng nghe những điều họ nói. Điều đó tối quan trọng đối
với tất cả chúng ta.
Tu viện trưởng ngồi xuống, và người phụ nữ được giới thiệu là
Alexandrine de Forbin hắng giọng, nói nhỏ nhẹ đến nỗi các nữ tu sĩ phải
căng tai lắng nghe. Tuy vậy lời lẽ của cô ta rất rõ ràng.
"Các chị em đạo hữu của ta", cô bắt đầu, "câu chuyện mà chúng tôi phải kể
không dành cho những người nhút nhát. Trong chúng ta có những người
đến với Chúa với hy vọng cứu rỗi nhân loại. Có những người đến đây với
hy vọng thoát ly trần thế. Và cũng có những người miễn cưỡng đến đây,
không hề cảm thấy bất kỳ động lực nào hết". Nói đến đây, cô đưa cặp mắt
đen láy, long lanh về phía Valentine khiến cô này thẹn đỏ cả mặt.
'Bất kể các chị nghĩ mục đích của mình là gì thì nó cũng đã thay đổi, kể từ
hôm nay. Trong hành trình của Charlotte và tôi đã đi dọc suốt chiều dài
nước Pháp, qua Paris và tất cả làng mạc. Chúng tôi đã chứng kiến không
chỉ những người đói khát mà cả những người chết vì đói. Dân chúng đang
nổi loạn trên đường phố để giành giật miếng ăn. Những cảnh tàn sát, đàn
bà vác những chiếc đầu bị cắt lìa cắm trên đỉnh ngọn giáo diễu qua khắp
các khu phố. Những cảnh hiếp dâm, và còn tệ hơn thế. Trẻ nhỏ bị giết,
người lớn bị tra tấn ngay trên các quảng trường và bị phanh thây bởi
những đám đông giận dữ ..." Các nữ tu không còn giữ yên được nữa. Giọng
họ vang lên đầy hốt hoảng trong khi Alexandrine tiếp tục câu chuyện đẫm
máu.
"Bây giờ là tháng tư. Tháng mười năm ngoái, nhà vua và hoàng hậu đã bị
một đám đông phẫn nộ bắt cóc khỏi cung điện Versailles và bị đưa về giam
giữ tại điện Tuilleries ở Paris. Chúng ép nhà vua ký vào một văn kiện, bản
"Tuyên ngôn nhân quyền", tuyên bố quyền bình đẳng cho mọi người. Thực
tế, Quốc hội hiện đang điều hành chính phủ; nhà vua không có quyền can
thiệp. Đất nước chúng ta đã vượt xa tầm một cuộc cách mạng. Chúng ta
đang trong tình trạng vô chính phủ. Tồi tệ hơn nữa, Quốc hội phát hiện
trong ngân khố quốc gia không có vàng; nhà vua đã làm vương quốc khánh
kiệt. Ở Paris, người ta tin rằng nhà vua sẽ không sống sót qua năm nay".
Cơn chấn động lướt qua những dãy ghế của các nữ tu, và tiếng xì xào sửng
sốt râm ran khắp gian phòng. Mireille siết nhẹ bàn tay Valentine trong khi
cả hai đều nhìn chằm chằm vào người nói. Những phụ nữ trong căn phòng
này chưa bao giờ nghe thấy những ý nghĩ kiểu đó được phát biểu lớn
tiếng, và họ cũng không thể hình dung những điều như vậy là có thật. Tra
tấn, vô chính phủ, giết vua. Sao có thể thế được ?
Viện trưởng đập tay xuống mặt bàn yêu cầu giữ trật tự, và các nữ tu sĩ im
bặt. Bấy giờ Alexandrine ngồi vào chỗ, còn xơ Charlotte đứng một mình
cạnh bàn. Giọng nói của xơ to và mạnh mẽ.
"Trong Quốc hội có một kẻ cực kỳ xấu xa. Mặc dù tự nhận mình là thành
viên của giới tăng lữ nhưng hắn rất khao khát quyền lực. Y chính là giám
mục địa phận Autun. Trong thâm tâm, những người thuộc Giáo hội La Mã
tin rằng hắn là hiện thân của ma quỷ. Họ nói hắn sinh ra đã có móng chân
chẻ đôi, biểu tượng của cái ác, rằng hắn uống máu con nít để giữ vẻ trẻ
trung, rằng hắn cử hành lễ Đen cầu xin quỷ Satăng. Vào tháng mười, tên
giám mục này đề xuất với Quốc hội cho Nhà nước tịch thu toàn bộ tài sản
của Nhà thờ. Ngày hai tháng mười một, dự luật Tịch Biên của hắn được
Mirabeau, một chính khách cấp cao, ủng hộ trước quốc hội, và đã được
thông qua. Ngày mười ba tháng hai, công cuộc tịch thu bắt đầu. Bất cứ
tăng ni nào chống đối cũng đều bị bắt giam. Và ngày mười sáu tháng hai,
tên giám mục của vùng Autun ấy được bầu làm chủ tịch Quốc hội. Giờ đây
chẳng gì có thể ngăn hắn lại được".
Các nữ tu sĩ đang trong tâm trạng cực kỳ kích động, họ cất cao giọng kêu
than kinh hãi và cực lực phản đối, nhưng giọng Charlotte vang vọng trên
hết.
"Khá lâu trước khi đưa ra dự luật Tịch Biên, giám mục Autun đã mở những
cuộc điều tra về nơi cất giữ tài sản của Giáo hội ở Pháp. Mặc dù bản dự
luật ghi rõ các linh mục bị tước vị trước và các nữ tu sĩ được tha nhưng
chúng tôi biết tên giám mục đó đã để mắt tới tu viện Montglane. Nhiều
cuộc điều tra của y tập trung nhắm vào xung quanh Montglane này. Chúng
tôi vội vã đến đây báo cho các chị biết chuyện này. Kho báu của Montglane
không được để rơi vào tay hắn".
Nữ tu viện trưởng đứng đó, đặt tay lên bờ vai vững chãi của Charlotte
Corday. Bà nhìn khắp lượt các hàng ghế nữ tu trong những bộ trang phục
đen, những chiếc nón hồ cứng của họ rập rờn dưới kia như mặt biển đầy
hải âu hoang dã, và bà nở một nụ cười. Đây là các con chiên của bà, những
người bà đã dẫn dắt từ rất lâu và có thể bà sẽ không được gặp lại họ trong
đời một khi tiết lộ điều buộc phải nói ra.
"Giờ thì các con đã nắm được tình cảnh như ta", viện trưởng nói. "Mặc dù
đã biết từ nhiều tháng nay về số kiếp của chúng ta nhưng ta vẫn không
muốn nói làm các con lo sợ, đến khi nào ta chọn được một hướng đi. Trên
hành trình đáp lại lời kêu gọi, các xơ ở Caen đã chứng thực nỗi hãi hùng
tồi tệ nhất của ta". Các nữ tu lúc này đã rơi vào một sự im lặng chết người.
Không thể nghe thấy một âm thanh nào ngoài giọng nói của nữ tu viện
trưởng.
"Ta là một bà già có thể sẽ được gọi về với Chúa sớm hơn hình dung. Lời
thề nguyện của ta khi bắt đầu cai quản tu viện này không chỉ là lời thề với
Chúa. Gần bốn mươi năm trước, lúc trở thành nữ tu viện trưởng của
Montglane, ta đã thề giữ kín một bí mật, nếu cần có thể hy sinh cả tính
mạng để bảo toàn nó. Bây giờ đến lúc ta thực hiện lời thề này. Nhưng ta
phải chia sẻ một vài điều của bí mật với từng người các con và đến lượt
các con phải thề giữ kín. Câu chuyện của ta dài, và các con phải kiên nhẫn
nếu ta có nói chậm rãi. Khi ta kể xong, các con sẽ biết tại sao từng người
trong chúng ta buộc phải làm những điều tất yếu".
Nữ tu viện trưởng tạm ngừng để nhấp một ngụm nước trong chiếc cốc lễ
bằng bạc đặt trên bàn trước mặt rồi nói tiếp.
Hôm nay là ngày bốn tháng tư năm 1790 sau Công nguyên. Câu chuyện
của ta bắt đầu vào một ngày bốn tháng tư cách đây nhiều năm. Người tiên
nhiệm đã kể ta nghe, như thông lệ bao đời nay từ khi tu viện ra đời, viện
trưởng sẽ truyền lại câu chuyện cho người kế nghiệp trong buổi lễ thác vị.
Và bây giờ ta kể các con nghe...
CÂU CHUYỆN CỦA NỮ VIỆN TRƯỞNG
Ngày bốn tháng tư năm 782, một lễ hội tưng bừng đã được tổ chức tại
Đông cung ở Aachen kỷ niệm lần thứ bốn mươi ngày sinh của nhà vua
Charlemagne vĩ đại. Ngài triệu tập toàn thể tầng lớp quý tộc đến chính
điện, nơi có mái vòm chạm trổ và những bậc thang uốn quanh thành hàng,
ngoài ban công xếp đầy những cây cọ nhập khẩu và được trang hoàng các
vòng hoa lộng lẫy. Đàn hạc và đàn luýt réo rắt trong các đại sảnh giữa
những chiếc đèn lồng bằng vàng và bạc. Các vị quần thần, xúng xính trong
những bộ ngự bào màu tía, màu vàng và đỏ thẫm, đi đi lại lại giữa chốn
thần tiên của các nghệ sĩ tung hứng, các anh hề, và những màn trình diễn
múa rối). Gấu, sư tử, hươu cao cổ hoang dã và vài lồng bồ câu được đưa
vào sân rồng. Cuộc vui tưng bừng nhộn nhịp kéo dài hàng tuần chờ đón
sinh nhật nhà vua.
Đỉnh cao của lễ hội vào đúng ngày sinh nhật nhà vua. Sáng hôm ấy, Ngài
ngự giá đến sân rồng chính điện với mười tám người con, hoàng hậu, và
các cận thần được sủng ái ríu rít vây quanh. Charlemagne là một người cao
lớn quá khổ với vẻ phong sương của một hiệp sĩ và một tay bơi lội. Làn da
rám nắng, mái tóc và bộ râu hoe vàng dưới ánh mặt trời, trông Ngài hệt
như chiến binh và là người cai trị vương quốc rộng lớn nhất thế giới.
Khoác một tấm áo len dài giản dị có dây thắt ngang lưng cùng chiếc áo
khoác bằng da lông chồn mactet vừa sát người và đeo thanh gươm muôn
thuở, nhà vua băng qua sân rồng, hân hoan chào mừng thần dân và mời họ
tự nhiên thưởng thức các món ăn thịnh soạn được dọn lên đầy ắp những
chiếc bàn lớn quanh đại sảnh.
Nhà vua đã chuẩn bị một điều thú vị đặc biệt cho ngày trọng đại này. Là
bậc thầy về chiến lược quân sự, ngài cực kỳ say mê một trò chơi. Trò chơi
của chiến tranh, trò chơi của vua chúa, đó chính là môn cờ vua. Nhân dịp
sinh nhật thứ bốn mươi của mình, Charlemagne đề nghị so tài với tay cờ
xuất sắc nhất vương quốc, anh lính mang tên Garin Người Cương Trực.
Garin tiến vào sân rồng trong tiếng kèn trompet vang vang. Những nghệ sĩ
nhào lộn nhảy nhót trước mặt anh còn các cô gái rải những lá cọ và cánh
hoa hồng trên lối đi. Garin là một thanh niên mảnh khảnh, nước da xanh tái
với sắc thái nghiêm trang và đôi mắt xám, anh là binh lính trong quân đội
miền Tây. Anh quỳ xuống khi nhà vua đứng dậy chào đón anh.
Bộ quân cờ được đưa vào đại sảnh trên vai tám tên đầy tớ da đen mặc
những bộ chế phục kiểu Ma-rốc. Những người hầu này và cả bàn cờ vua
họ đang khiêng trên đầu là món quà do Ibn-al-Arabi, thủ lĩnh Hồi giáo của
Barcelona gửi tặng để tỏ lòng cảm ơn sự trợ giúp của nhà vua trong cuộc
chiến chống lại người Basque (miền Tây Pyrenees, thuộc Đông Bắc Tây
Ban Nha) ở vùng núi Pyrenees bốn năm về trước. Chính trong quá trình lui
binh của trận đánh vang danh ấy, người lính Hruoland được nhà vua quý
mến đã tử trận tại đèo Roncesvalles (thị trấn Tây Ban Nha) ở Navarre
(vùng lịch sử của Tây ban Nha, nằm kẹp giữa những dãy núi của Pyrenees
và các ngọn núi Iberiques) và hóa thân thành nhân vật chính trong tác phẩm
"Bài ca Roland". Do liên tưởng đến sự việc đau lòng đó nên nhà vua đã
không bao giờ chơi trên bộ bàn cờ ấy nữa, và cũng không bao giờ mang nó
ra trước mặt thần dân của mình nữa.
Cả triều đình lấy làm kinh ngạc trước vẻ tráng lệ của bộ cờ khi nó được
đặt lên một chiếc bàn trong sân rồng. Mặc dù được chế tác dưới tay những
bậc thầy thợ thủ công Ả Rập nhưng các quân cờ vẫn mang dấu tích tổ tiên
Ấn Độ và Ba Tư. Vài người tin rằng môn cờ vua đã có mặt tại Ấn Độ hơn
bốn trăm năm trước khi Ch
 





