giáo dục địa phương 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: hoàng thị dậu
Ngày gửi: 15h:05' 16-12-2025
Dung lượng: 19.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: hoàng thị dậu
Ngày gửi: 15h:05' 16-12-2025
Dung lượng: 19.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
ĐỒNG HUY GIỚI – HÀ THỊ KHÁNH VÂN (đồng Tổng Chủ biên)
NGUYỄN VĂN DŨNG – NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN – PHẠM THỊ MAI NGỌC – LÊ THỊ MINH NGUYỆT
NGUYỄN THỊ HỒNG THUÝ – HỒ THỊ HỒNG VÂN (đồng Chủ biên)
VŨ THỊ LAN ANH – TRƯƠNG PHƯƠNG ANH – NGÔ THẾ ANH – NGUYỄN HOÀNG ĐẠO – VŨ TRÚC HÀ
NGUYỄN THU HẰNG – NGUYỄN THANH HỒNG – NGUYỄN THANH MAI – LƯU HOA SƠN – ĐỖ TRUNG SỸ
HOÀNG VĂN THAO – TRIỆU HOÀNG THUÝ – DƯƠNG ANH TUÂN – LƯƠNG ÁNH TUYẾT
1
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 đều
được chỉ dẫn bằng một kí hiệu. Thầy cô sẽ hướng dẫn học sinh theo những
chỉ dẫn này. Các em cũng có thể theo các kí hiệu chỉ dẫn này để tự học.
Gợi mở những vấn đề liên quan đến nội dung
chủ đề, tạo hứng thú cho học sinh đối với bài mới
Phát hiện, hình thành các kiến thức mới, kĩ năng mới
Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng theo nội dung,
yêu cầu cần đạt của chủ đề
Vận dụng những tri thức, kĩ năng đã được
hình thành, rèn luyện để giải quyết các vấn đề
trong thực tiễn cuộc sống
2
Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp
Trung học cơ sở là nội dung giáo dục bắt buộc, có vị trí tương đương các môn học khác.
Nội dung tài liệu chứa đựng những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá, lịch sử,
địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm trang bị cho
học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng tình yêu và niềm tự hào về quê
hương, gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; giáo dục sự trân trọng và
có ý thức giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh địa phương,
vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của
địa phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp.
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 được biên soạn bao gồm khung
chương trình và tài liệu dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; được thiết kế gồm 8
chủ đề thuộc 3 cụm lĩnh vực với tổng thời lượng là 35 tiết/năm học. Việc biên soạn tài
liệu được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan. Nội dung,
thông tin thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cao; đồng thời bám sát mục tiêu đổi mới
giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh tương ứng với
lớp, cấp học, giúp cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy
học tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tối đa tính tự giác,
tích cực, sáng tạo của giáo viên và học sinh.
Nhóm biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 là các chuyên gia,
các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán cấp Trung học cơ sở,
Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn, giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn.
Tài liệu đã nhận được sự góp ý của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ quản lí giáo dục,
giáo viên cấp Trung học cơ sở trong và ngoài tỉnh thông qua các hội nghị, hội thảo;
đồng thời đã được tổ chức dạy thực nghiệm tại trường Trung học cơ sở trên địa bàn
tỉnh, được các thầy, cô và học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi và thực tiễn cao.
Tài liệu đã được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn thẩm định và Bộ Giáo dục và Đào tạo
phê duyệt. Đây là tài liệu giáo dục địa phương chính thức được sử dụng trong tất cả các
trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Chúc các em học tập tốt và trải nghiệm thật vui !
3
Trang
LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ ............................................................................................................. 5
Chủ đề 1. Tục ngữ, ca dao Lạng Sơn ...................................................................................................... 5
Chủ đề 2. Hát Then – đàn tính ở tỉnh Lạng Sơn ............................................................................... 10
Chủ đề 3. Lạng Sơn trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ biên giới
tổ quốc (từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ) .......................................................................................... 15
Chủ đề 4. Di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Lạng Sơn............ 22
LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP ............................................................................ 33
Chủ đề 5. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Lạng Sơn ................................ 33
Chủ đề 6. Một số nghề phổ biến ở Lạng Sơn ................................................................................... 47
LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG ........................................................................ 55
Chủ đề 7. Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương Lạng Sơn ................ 55
Chủ đề 8. Đa dạng hệ sinh thái tỉnh Lạng Sơn ................................................................................. 64
4
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ
1
TỤC NGỮ, CA DAO LẠNG SƠN
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Nhận biết được một số yếu tố của tục ngữ, ca dao: số lượng câu, chữ, vần,…
qua một số câu tục ngữ, bài ca dao tiêu biểu của Lạng Sơn.
● Biết viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề đời sống được gợi ra qua các
câu tục ngữ, bài ca dao đã học; bày tỏ rõ quan điểm cá nhân; đưa ra được
lí lẽ rõ ràng và bằng chứng đa dạng.
● Trình bày được ý kiến về một vấn đề đời sống được gợi ra qua các câu tục ngữ,
bài ca dao đã học, nêu rõ ý kiến và các lí lẽ, bằng chứng thuyết phục. Biết
bảo vệ ý kiến của mình trước sự phản bác của người nghe. Tóm tắt được các
ý chính do người khác trình bày.
● Biết yêu quý, trân trọng và có ý thức giữ gìn tục ngữ, ca dao Lạng Sơn.
1. Em biết những câu tục ngữ, bài ca dao nào của Lạng Sơn?
2. Theo em, những câu tục ngữ, bài ca dao đó gửi gắm triết lí, tình cảm nào của
người xưa?
TỤC NGỮ
Chuẩn bị
Khi đọc tục ngữ, em cần chú ý:
– Số chữ, số dòng, cách gieo vần, ngắt nhịp trong mỗi câu tục ngữ.
– Bài học nhận thức (về tự nhiên, xã hội) được gửi gắm trong mỗi câu tục ngữ.
5
VĂN BẢN(1)
1. Bươn Slam lồng chả
Bươn Hả đăm nà.
(Tháng Ba gieo mạ
Tháng Năm cấy lúa.)
2. Phả fạ tắm phân luông
Phả fạ slung phân nọi.
(Mây trời sà thấp mưa to
Mây trời bay cao mưa ít.)
3. Nâư chay mạy
Pài đảy khăm.
(Sáng trồng cây
Chiều có bóng mát.)
4. Nẳng kin
Thin phja lác.
(Ngồi ăn, núi đá lở.)
5. Kin đay mí lao pình
Nằng chính mí lao nghiếng.
(Ăn sạch chẳng sợ bệnh
Ngồi ngay không sợ ngã.)
6. Lạc mạy tẩn
Lạc cần slì.
(Rễ cây ngắn
Rễ người dài.)
7. Ún bố quá cong fầy
Đây bố quá pò mè.
(Ấm không hơn bếp lửa
Tốt không hơn bố mẹ.)
8. Slai đưa cắt tòn.
(Dây rốn chia đôi.)
(1)
Bài học chỉ trích dẫn tục ngữ của dân tộc Tày – Nùng, hai dân tộc chủ yếu ở Lạng Sơn.
6
9. Slíp pì noọng dú quây
Bấu tày lạo thua đây tồng tó.
(Mười anh em ở xa
Không bằng người cạnh cầu thang.)
10. Mí chảng tha táng hăn
Mí nầư căm quỳn đảy quá vằn.
(Chẳng nói ai cũng biết
Chẳng ai nắm tay được cả ngày.)
(Theo Hoàng Nam, Thành ngữ, tục ngữ, châm ngôn Tày – Nùng,
NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2017)
Em có biết?
● Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, có vần, có nhịp điệu, thể hiện nhận thức của
người xưa về quy luật, hiện tượng thiên nhiên, kinh nghiệm sản xuất hoặc tổng kết, giáo dục
về đạo đức, răn dạy về điều hay lẽ phải và đối nhân xử thế giữa người với người.
● Tục ngữ Lạng Sơn gồm các nhóm:
– Tục ngữ đúc rút kinh nghiệm trong lao động, sản xuất;
– Tục ngữ về cách ứng xử trong gia đình, xã hội;
– Tục ngữ tổng kết, giáo dục về phẩm chất đạo đức.
1. Xác định số chữ, cách gieo vần, mối quan hệ giữa các vế trong bản nguyên tác
của các câu tục ngữ trên.
2. Hãy chia nhóm các câu tục ngữ trong bài dựa vào nội dung của chúng.
3. Chỉ ra kinh nghiệm về tự nhiên hoặc xã hội được đúc kết trong mỗi câu tục ngữ.
CA DAO
Chuẩn bị
Khi đọc bài ca dao, em cần lưu ý:
– Thể thơ, số dòng, cách gieo vần trong bài ca dao.
– Tình cảm, tâm sự của tác giả dân gian thể hiện qua bài ca dao.
VĂN
BẢN
– Biện pháp tu từ được sử dụng, hiệu quả của biện pháp tu từ đó đối với bài ca dao.
7
VĂN BẢN
Đồng Đăng(1) có phố Kỳ Lừa (2)
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Tiếc công(2) bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem(3)
Mảng vui(4) quên hết lời em dặn dò.
(Theo Mã Giang Lân, Tục ngữ, ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 93)
Chợ Kỳ Lừa xưa và nay
Em có biết?
● Ca dao diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ lứa đôi,
gia đình, xã hội, đất nước,... gắn liền với nghi lễ, phong tục và đời sống sinh hoạt hằng ngày.
● Ca dao Lạng Sơn bao gồm ca dao tiếng Việt và ca dao tiếng dân tộc thiểu số.
(1)
Đồng Đăng: khoảng từ cuối thế kỉ XV, Đồng Đăng là một vùng rộng lớn bao gồm thành phố Lạng Sơn
và Đồng Đăng ngày nay, trong đó có chợ Kỳ Lừa, chùa Tam Thanh, núi Tô Thị,…
(2)
Tiếc công: có dị bản là bõ công.
Nem: có thể hiểu là nem (dùng để ăn), cũng có thể hiểu là nem hương – nhang (dùng để cúng, lễ).
(4)
Mảng vui: có dị bản là mải vui.
(3)
8
1. Chỉ ra đặc điểm của thể thơ lục bát thể hiện qua bài ca dao (số chữ trong mỗi
dòng, số dòng trong bài, cách gieo vần, cách ngắt nhịp).
2. Chỉ ra các địa danh của Lạng Sơn xuất hiện trong bài ca dao.
3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong bài ca dao.
4. Em có cảm nhận gì về vẻ đẹp của Lạng Sơn qua bài ca dao trên?
5. Nhận xét về tình cảm của tác giả dân gian đối với Lạng Sơn qua bài ca dao trên.
1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 10 – 12 câu) bày tỏ suy nghĩ của em về vấn đề
đời sống được gợi ra từ một câu tục ngữ hoặc bài ca dao đã học.
2. Giả sử bạn em cho rằng câu tục ngữ:
Slíp pì noọng dú quây
Bấu tày lạo thua đây tồng tó.
(Mười anh em ở xa
Không bằng người cạnh cầu thang.)
có nghĩa là không cần quan tâm đến những người ruột thịt ở cách xa mình mà chỉ nên
quan tâm, yêu quý láng giềng. Hãy nêu quan điểm của em về vấn đề này.
1. Sưu tầm các dị bản của bài ca dao đã học, ghi chép lại.
2. Ghi lại 3 tình huống sử dụng tục ngữ em nghe được trong lời ăn tiếng nói
hằng ngày của người thân, bạn bè.
3. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 10 – 12 câu) về vấn đề đời sống được gợi ra từ một
câu tục ngữ em sưu tầm được.
9
2
HÁT THEN − ĐÀN TÍNH Ở TỈNH LẠNG SƠN
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Trình bày được một số đặc điểm và giá trị của Di sản Thực hành Then.
● Xác định được vai trò, ý nghĩa của hát Then – đàn tính trong đời sống hiện nay ở
địa phương em.
● Sưu tầm và liệt kê được một số chủ đề của lời hát Then mới ở địa phương em
hiện nay.
● Làm được một sản phẩm tuyên truyền về hát Then – đàn tính (bài viết, hình
ảnh, video clip, poster,...).
Thảo luận để trả lời câu hỏi:
– Em đã từng tham dự Nghi lễ Then hoặc chương trình biểu diễn hát Then – đàn tính
chưa? Cảm xúc của em sau khi tham dự hoạt động đó như thế nào?
– Chia sẻ với các bạn trong nhóm những hiểu biết của em về hát Then – đàn tính ở
địa phương em hiện nay.
1. Thực hành Then của Việt Nam được ghi danh là di sản văn hoá của nhân loại
Thực hành Then tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc (Bắc Giang, Bắc Kạn,
Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang), vùng Tây Bắc
(Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai) và một số địa phương khác ở Việt Nam. Đây là di sản văn
hoá đặc trưng của người Tày, Nùng, Thái,...
Thực hành Then của người Tày, Nùng ở Lạng Sơn, cũng giống như ở các địa
phương khác, vừa là một thực hành nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh,
vừa là một loại hình nghệ thuật dân gian phản ánh các quan niệm về con người, thế
giới tự nhiên và vũ trụ của người Tày, Nùng. Các nghi lễ Then như cầu an, giải hạn,
cúng mụ,... đều hướng tới những điều tốt đẹp, bày tỏ khát vọng về cuộc sống bình
yên, ấm no, hạnh phúc và thể hiện bản sắc văn hoá của các dân tộc này. Năm 2019,
Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá
phi vật thể đại diện của nhân loại.
10
Thực hành Then là một loại hình
nghệ thuật tổng hợp chứa nhiều
thành tố văn học, âm nhạc, mĩ thuật,
múa,... Trong các nghi lễ, ông Then,
bà Then trình diễn như một diễn
viên tổng hợp: miệng hát, tay đàn,
múa, diễn trò minh hoạ cho lời hát,
chân xóc nhạc,...
Âm nhạc là yếu tố xuyên suốt, có
nhiều bài bản, làn điệu được diễn
tấu trong nghi lễ Then… Trong đó,
đàn tính và chùm xóc nhạc cùng với
sự “thăng hoa” của thầy Then đã tạo
nên tính đa dạng, phong phú của
âm nhạc và lời hát của Then.
Em có biết?
Di sản văn hoá là sản phẩm tinh thần, vật
chất có giá trị lịch sử – văn hoá, khoa học, được
lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh
thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể
và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch
sử – văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của
cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các
hình thức khác.
Lời ca trong Then phổ biến là thơ bảy chữ, phản ánh đời sống xã hội của cư dân
Tày, Nùng, chứa đựng nhiều bài học đạo đức thông qua những câu chuyện thần tiên,
câu chuyện cuộc đời; chứa đựng nhiều tư liệu quý về lịch sử, tư tưởng, phong tục,
tập quán,...
1. Tại sao nói “Then là một loại hình trình diễn nghi lễ mang tính tổng hợp”?
2. Theo em, giá trị đặc sắc của Thực hành Then là gì? Vì sao?
2. Hát Then – đàn tính của người Tày, Nùng trong đời sống hiện nay
Nếu Then cổ (Then tâm linh) là các nghi lễ liên quan đến cuộc sống của con
người, như một phương tiện để truyền tải ước nguyện về sự bình an, hạnh phúc cho
mỗi cá nhân; gia đình và cộng đồng, được một số ít nghệ nhân và những người làm
nghề Then lưu giữ, hành nghề, truyền dạy thì Then mới (Then văn nghệ) lại do
những người am hiểu, yêu thích then đặt lời mới theo giai điệu then cổ với nội dung
ca ngợi cuộc sống, tình yêu đôi lứa, ca ngợi công ơn của Đảng, của Bác Hồ,... Then
mới có số lượng người lưu truyền, sáng tác khá đông đảo, được phát triển ở hầu
khắp các bản làng có người Tày, Nùng sinh sống. Đó là cách để các thế hệ nối tiếp
nhau đưa hát Then – đàn tính bay xa.
Những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã khuyến khích thành lập và phát triển các câu lạc bộ
hát Then – đàn tính.
Theo thống kê của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn, đến năm 2021, toàn
tỉnh có gần 100 câu lạc bộ (hoặc nhóm người) được thành lập với mục đích sinh hoạt,
11
giao lưu, trao truyền nghệ thuật hát Then − đàn tính. Những tiết mục biểu diễn hát
Then − đàn tính đã và đang trở thành những tiết mục tiêu biểu, ngày càng chiếm tỉ lệ
cao trong các chương trình biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quần
chúng của địa phương.
Hình 1. Câu lạc bộ hát Then Nộc Khảm Khắc (thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng)
Chủ đề sáng tác lời mới khá phong phú, trong đó xuyên suốt là mạch nguồn xúc
cảm về tình yêu quê hương, làng bản: “… Tân Mỹ nơi núi rừng xanh thăm thẳm/Nơi
nguồn nước trong mát ngày đêm/Bên vườn mận xanh mướt trĩu cành/Cùng vườn hồng, đồi
cam sai quả/Quê em mười tám thôn đoàn kết/Một lòng đi theo lời Đảng dạy…” (Tân Mỹ
quê em đổi mới, đặt lời: Chu Thị Đài); là những lời ca gần gũi, phù hợp với cách cảm, cách
nghĩ của con người trong thời đại mới, tạo được sức hấp dẫn cho thế hệ trẻ: “… Lời Bác
còn sáng mãi trong lòng/Không có gì quý hơn độc lập, tự do/Người là ánh mặt trời soi
sáng đường/Nhìn quê nhà đổi mới lòng tràn đầy niềm vui…” (Nhớ ơn Bác Hồ, sáng tác: Vi Tơ);
là cách thể hiện của người miền núi với lối tư duy theo mạch thẳng, dễ hiểu và
thân thuộc: “Canh khuya nghe tiếng vọng đại ngàn/Văng vẳng điệu dân ca quê
mình/Quê mình có Ví, Lượn, Sli, Then/Điệu hát ru muôn đời lưu giữ/Điệu Quan làng trình họ
mừng cưới/Điệu Phong slư điệu hát gửi trao/Cùng nhau ta chung tay gìn giữ/Kì xuân về
nhớ tìm câu then/Câu hát Lượn giao duyên bạn nhé…” (Điệu dân ca quê mình, đặt lời:
Dương Công Tuất);…
12
Ngoài ra, các công đoạn chế tác cây đàn tính, phương pháp và thực hành chơi
đàn tính – loại nhạc cụ không thể thiếu trong hát Then cũng được chú trọng truyền
dạy, phát triển trở thành nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của người Tày, Nùng,
góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch, dịch vụ
tại địa phương.
Hình 2. Vi Tơ – người nghệ sĩ tâm huyết với cây đàn tính
Theo dòng chảy thời gian, với sự đổi mới, sáng tạo không ngừng của đồng bào dân
tộc Tày, Nùng, Then trong đời sống đương đại được “khoác tấm áo mới” bằng những lời
ca tươi sáng phản ánh cuộc sống ngày nay, tạo nên sự phong phú cho văn hoá dân tộc,
mở thêm con đường để Then có sức sống lâu bền, trường tồn theo thời gian.
1. Kể tên một số câu lạc bộ hát Then – đàn tính ở địa phương em và chia sẻ về việc
đặt lời mới hiện nay.
2. Em biết gì về cây đàn tính? Kể tên một số nghệ nhân hoặc người chế tác đàn tính
mà em biết.
13
1. Nêu những đặc điểm và giá trị của di sản Thực hành Then.
2. Trình bày vai trò, ý nghĩa của hát Then − đàn tính trong đời sống.
3. Em sẽ làm gì để góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản Thực hành Then ở
Lạng Sơn?
1. Sưu tầm và giới thiệu về một số chủ đề của lời hát Then mới ở Lạng Sơn
hiện nay.
2. Em và các bạn hãy làm một sản phẩm truyền thông về hát Then − đàn tính (bài
viết, hình ảnh, video clip, poster,...).
3. Lựa chọn một tác phẩm/đoạn trích hát Then – đàn tính, cùng các bạn luyện tập và
biểu diễn cho người thân hoặc thầy cô giáo và các bạn thưởng thức.
14
LẠNG SƠN TRONG CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG XÂM LƯỢC VÀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI TỔ QUỐC
(TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX)
3
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Trình bày sơ lược sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Lạng Sơn từ thế kỉ X
đến giữa thế kỉ XIX.
● Trình bày được đóng góp của nhân dân Lạng Sơn trong một số cuộc kháng
chiến chống xâm lược tiêu biểu của dân tộc cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ
biên cương Tổ quốc.
● Tự hào về truyền thống yêu nước, có ý thức trách nhiệm bảo vệ và xây dựng
quê hương.
Em có biết vùng đất Lạng Sơn gắn liền với những chiến công lẫy lừng nào trong đấu
tranh chống các triều đại phong kiến phương Bắc? Nhân dân các dân tộc ở Lạng Sơn đã
đoàn kết với nhân dân cả nước, bảo vệ vùng đất biên cương của Tổ quốc như thế nào?
1. Địa giới, tên gọi Lạng Sơn từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX
Trong thời kì phong kiến độc lập, vùng đất Lạng Sơn có sự thay đổi về địa giới hành
chính với các tên gọi khác nhau.
•
•
•
•
Thời Đinh, Tiền Lê: Lạng Sơn thuộc châu Lạng của Đại Cồ Việt.
Thời Lý: châu Lạng được đổi thành lộ với tên gọi Lạng Giang.
Đầu thời Trần: Lộ Lạng Giang được đổi thành trấn.
Thời Lê sơ: Thời kì đầu, cả nước được chia thành 5 đạo, vùng đất Lạng Sơn
là một trấn thuộc Bắc đạo. Đến năm 1466, Lê Thánh Tông chia nước
thành 12 đạo thừa tuyên, trấn Lạng Sơn được đổi thành thừa tuyên
Lạng Sơn.
• Thời Nguyễn: Lạng Sơn là một trấn thuộc Bắc Thành. Năm 1831, vua Minh
Mạng tiến hành cải cách hành chính, tên gọi tỉnh Lạng Sơn bắt đầu từ đó.
Vùng đất Lạng Sơn từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX đã trải qua những tên gọi nào?
15
2. Nhân dân Lạng Sơn trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ
biên giới Tổ quốc (từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX)
a) Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI
Lạng Sơn nằm trên con đường chính, ngắn nhất từ biên giới Việt – Trung đến kinh
thành Thăng Long. Trên con đường ấy, ải Chi Lăng là nơi hiểm yếu, thuận lợi cho việc bố
trí phục binh, chốt hiểm. Nơi đây đã từng ghi dấu những chiến công oanh liệt của quân
dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc suốt gần mười
thế kỉ.
Năm 1075, trước nguy cơ quân Tống chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai, Thái uý
Lý Thường Kiệt tổ chức một cuộc tập kích vào đất Tống nhằm phá tan các cứ điểm
Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu của giặc. Đạo quân bộ chủ yếu là người Tày (ở Cao
Bằng, Lạng Sơn) do Thân Cảnh Phúc chỉ huy phối hợp với quân triều đình tiến thẳng
sang Ung Châu. Kế hoạch thành công, Lý Thường Kiệt lập tức cho rút quân về nước.
Trong cuộc chủ động tiến công này, nhân dân Lạng Sơn cùng với các tù trưởng đã đóng
góp công lớn với triều đình.
Tư liệu 1. Phò mã Thân Cảnh Phúc, thủ lĩnh châu Quang Lang đóng quân ở động Giáp
(vùng Kép, Bắc Giang) khống chế đường Lạng Sơn – Thăng Long). Lợi hại nhất là đội
binh của ông đặt ở đèo Quyết Lý (phía bắc Chi Lăng) và cửa ải Giáp Khẩu (ải Chi Lăng).
Hỗ trợ cho Thân Cảnh Phúc là quân của các tù trưởng ở mạn Cao Bằng… Chính phó
tướng giặc là Triệu Tiết cũng phải công nhận Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc
ở động Giáp đều cầm cường binh. Năm 1077, Quách Quỳ cho quân kéo vào cửa ải Nam
Quan, đánh vào ải Quyết Lý (Chi Lăng). Phò mã Thân Cảnh Phúc được triều đình giao
trọng trách chặn đánh giặc từ biên giới Lạng Sơn xuống Chi Lăng đến địa bàn tỉnh Bắc
Giang. Các cuộc tập kích của đạo quân Thân Cảnh Phúc đã làm cho địch gặp nhiều khó
khăn trên đường di chuyển.
(Tỉnh uỷ Lạng Sơn, Địa chí Lạng Sơn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.184)
Hình 1. Thân Cảnh Phúc − thủ lĩnh
châu Quang Lang cùng quân, dân
binh chiến đấu tiêu hao sinh lực địch
tại Chi Lăng năm 1077 (tranh vẽ)
16
Thế kỉ XIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên dưới thời Trần, nhân
dân các dân tộc Lạng Sơn tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho sự thắng lợi của
cuộc kháng chiến.
Tư liệu 2. Nguyễn Lộc hay Nguyễn Thế Lộc là thổ hào Lạng Sơn người dân tộc Tày,
được vua Trần phong là quản quân ở miền núi. Đầu năm 1258, khi quân giặc tiến
đến Lạng Sơn đã bị quân ta chặn đánh ở Khâu Ôn (Chi Lăng). Tháng 2 – 1285,
Thoát Hoan cho người đưa bọn phản bội Trần Kiện về cầu cứu vua Nguyên. Khi
chúng đến Lạng Sơn đã bị đội dân binh người Tày do hai anh em Nguyễn Thế Lộc và
Nguyễn Lĩnh chỉ huy bao vây, phục kích tại Ma Lục (Chi Lăng), quá nửa quân địch bị bắt.
(Tỉnh uỷ Lạng Sơn, Địa chí Lạng Sơn, Sđd, tr. 188)
Từ cuộc đấu tranh của quân và dân Lạng Sơn đã cho thấy những cái hố bẫy ngựa,
hay vách núi ở Chi Lăng đều được coi là một trong những kì công sáng tạo trong
nghệ thuật đánh giặc giữ nước của cha ông. Những địa danh của Lạng Sơn như
Quỷ Môn Quan, Cấm Địa, Lũng Ngàn, ải Chi Lăng,… đã làm cho quân giặc nhiều phen hồn
xiêu phách lạc.
Kết nối với văn học
Hình ảnh Quỷ Môn Quan – tử địa của quân thù đã
đi vào thi ca, trong đó có tác phẩm Quỷ Môn Quan
của Đại thi hào Nguyễn Du:
Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây,
Ải chia Nam Bắc chính là đây.
Tử sanh tiếng đã vang đồng chợ,
Qua lại người không ngớt tháng ngày.
Thấp thoáng quỷ đầu nương bóng khói,
Rập rình cọp rắn núp rừng cây.
Hình 2. Núi Mặt Quỷ (Quỷ môn)
(thuộc thôn Quán Thanh, xã Chi Lăng,
huyện Chi Lăng)
Bên đường gió lạnh luồng xương trắng,
Hán tướng công gì kể bấy nay?
Quách Tấn dịch
Đầu thế kỉ XVI, dưới ách thống trị của nhà Minh, tại Lạng Sơn đã nổ ra nhiều cuộc
khởi nghĩa chống quân Minh như khởi nghĩa của Nông Văn Lịch, Hoàng Thiên Hữu,
Nguyễn Văn Hách, Dương Thế Châu,...
Năm 1418, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo bùng nổ. Cuối năm 1427,
nhà Minh cử 10 vạn quân sang tiếp viện, tiến theo đường Lạng Sơn để về Đông Quan.
17
Quân ta bố trí trận địa mai phục
và tập kích quân giặc tại ải Chi
Lăng, tiêu diệt hàng vạn quân
tiên phong của giặc, trong đó
có cả chủ tướng Liễu Thăng.
Chiến thắng Chi Lăng – Xương
Giang của ta đã làm cho thế và
lực
NGUYỄN VĂN DŨNG – NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN – PHẠM THỊ MAI NGỌC – LÊ THỊ MINH NGUYỆT
NGUYỄN THỊ HỒNG THUÝ – HỒ THỊ HỒNG VÂN (đồng Chủ biên)
VŨ THỊ LAN ANH – TRƯƠNG PHƯƠNG ANH – NGÔ THẾ ANH – NGUYỄN HOÀNG ĐẠO – VŨ TRÚC HÀ
NGUYỄN THU HẰNG – NGUYỄN THANH HỒNG – NGUYỄN THANH MAI – LƯU HOA SƠN – ĐỖ TRUNG SỸ
HOÀNG VĂN THAO – TRIỆU HOÀNG THUÝ – DƯƠNG ANH TUÂN – LƯƠNG ÁNH TUYẾT
1
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 đều
được chỉ dẫn bằng một kí hiệu. Thầy cô sẽ hướng dẫn học sinh theo những
chỉ dẫn này. Các em cũng có thể theo các kí hiệu chỉ dẫn này để tự học.
Gợi mở những vấn đề liên quan đến nội dung
chủ đề, tạo hứng thú cho học sinh đối với bài mới
Phát hiện, hình thành các kiến thức mới, kĩ năng mới
Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng theo nội dung,
yêu cầu cần đạt của chủ đề
Vận dụng những tri thức, kĩ năng đã được
hình thành, rèn luyện để giải quyết các vấn đề
trong thực tiễn cuộc sống
2
Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp
Trung học cơ sở là nội dung giáo dục bắt buộc, có vị trí tương đương các môn học khác.
Nội dung tài liệu chứa đựng những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá, lịch sử,
địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm trang bị cho
học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng tình yêu và niềm tự hào về quê
hương, gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; giáo dục sự trân trọng và
có ý thức giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh địa phương,
vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của
địa phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp.
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 được biên soạn bao gồm khung
chương trình và tài liệu dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; được thiết kế gồm 8
chủ đề thuộc 3 cụm lĩnh vực với tổng thời lượng là 35 tiết/năm học. Việc biên soạn tài
liệu được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan. Nội dung,
thông tin thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cao; đồng thời bám sát mục tiêu đổi mới
giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh tương ứng với
lớp, cấp học, giúp cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy
học tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tối đa tính tự giác,
tích cực, sáng tạo của giáo viên và học sinh.
Nhóm biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 là các chuyên gia,
các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán cấp Trung học cơ sở,
Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn, giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn.
Tài liệu đã nhận được sự góp ý của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ quản lí giáo dục,
giáo viên cấp Trung học cơ sở trong và ngoài tỉnh thông qua các hội nghị, hội thảo;
đồng thời đã được tổ chức dạy thực nghiệm tại trường Trung học cơ sở trên địa bàn
tỉnh, được các thầy, cô và học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi và thực tiễn cao.
Tài liệu đã được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn thẩm định và Bộ Giáo dục và Đào tạo
phê duyệt. Đây là tài liệu giáo dục địa phương chính thức được sử dụng trong tất cả các
trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Chúc các em học tập tốt và trải nghiệm thật vui !
3
Trang
LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ ............................................................................................................. 5
Chủ đề 1. Tục ngữ, ca dao Lạng Sơn ...................................................................................................... 5
Chủ đề 2. Hát Then – đàn tính ở tỉnh Lạng Sơn ............................................................................... 10
Chủ đề 3. Lạng Sơn trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ biên giới
tổ quốc (từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ) .......................................................................................... 15
Chủ đề 4. Di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Lạng Sơn............ 22
LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP ............................................................................ 33
Chủ đề 5. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Lạng Sơn ................................ 33
Chủ đề 6. Một số nghề phổ biến ở Lạng Sơn ................................................................................... 47
LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG ........................................................................ 55
Chủ đề 7. Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương Lạng Sơn ................ 55
Chủ đề 8. Đa dạng hệ sinh thái tỉnh Lạng Sơn ................................................................................. 64
4
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ
1
TỤC NGỮ, CA DAO LẠNG SƠN
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Nhận biết được một số yếu tố của tục ngữ, ca dao: số lượng câu, chữ, vần,…
qua một số câu tục ngữ, bài ca dao tiêu biểu của Lạng Sơn.
● Biết viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề đời sống được gợi ra qua các
câu tục ngữ, bài ca dao đã học; bày tỏ rõ quan điểm cá nhân; đưa ra được
lí lẽ rõ ràng và bằng chứng đa dạng.
● Trình bày được ý kiến về một vấn đề đời sống được gợi ra qua các câu tục ngữ,
bài ca dao đã học, nêu rõ ý kiến và các lí lẽ, bằng chứng thuyết phục. Biết
bảo vệ ý kiến của mình trước sự phản bác của người nghe. Tóm tắt được các
ý chính do người khác trình bày.
● Biết yêu quý, trân trọng và có ý thức giữ gìn tục ngữ, ca dao Lạng Sơn.
1. Em biết những câu tục ngữ, bài ca dao nào của Lạng Sơn?
2. Theo em, những câu tục ngữ, bài ca dao đó gửi gắm triết lí, tình cảm nào của
người xưa?
TỤC NGỮ
Chuẩn bị
Khi đọc tục ngữ, em cần chú ý:
– Số chữ, số dòng, cách gieo vần, ngắt nhịp trong mỗi câu tục ngữ.
– Bài học nhận thức (về tự nhiên, xã hội) được gửi gắm trong mỗi câu tục ngữ.
5
VĂN BẢN(1)
1. Bươn Slam lồng chả
Bươn Hả đăm nà.
(Tháng Ba gieo mạ
Tháng Năm cấy lúa.)
2. Phả fạ tắm phân luông
Phả fạ slung phân nọi.
(Mây trời sà thấp mưa to
Mây trời bay cao mưa ít.)
3. Nâư chay mạy
Pài đảy khăm.
(Sáng trồng cây
Chiều có bóng mát.)
4. Nẳng kin
Thin phja lác.
(Ngồi ăn, núi đá lở.)
5. Kin đay mí lao pình
Nằng chính mí lao nghiếng.
(Ăn sạch chẳng sợ bệnh
Ngồi ngay không sợ ngã.)
6. Lạc mạy tẩn
Lạc cần slì.
(Rễ cây ngắn
Rễ người dài.)
7. Ún bố quá cong fầy
Đây bố quá pò mè.
(Ấm không hơn bếp lửa
Tốt không hơn bố mẹ.)
8. Slai đưa cắt tòn.
(Dây rốn chia đôi.)
(1)
Bài học chỉ trích dẫn tục ngữ của dân tộc Tày – Nùng, hai dân tộc chủ yếu ở Lạng Sơn.
6
9. Slíp pì noọng dú quây
Bấu tày lạo thua đây tồng tó.
(Mười anh em ở xa
Không bằng người cạnh cầu thang.)
10. Mí chảng tha táng hăn
Mí nầư căm quỳn đảy quá vằn.
(Chẳng nói ai cũng biết
Chẳng ai nắm tay được cả ngày.)
(Theo Hoàng Nam, Thành ngữ, tục ngữ, châm ngôn Tày – Nùng,
NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2017)
Em có biết?
● Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, có vần, có nhịp điệu, thể hiện nhận thức của
người xưa về quy luật, hiện tượng thiên nhiên, kinh nghiệm sản xuất hoặc tổng kết, giáo dục
về đạo đức, răn dạy về điều hay lẽ phải và đối nhân xử thế giữa người với người.
● Tục ngữ Lạng Sơn gồm các nhóm:
– Tục ngữ đúc rút kinh nghiệm trong lao động, sản xuất;
– Tục ngữ về cách ứng xử trong gia đình, xã hội;
– Tục ngữ tổng kết, giáo dục về phẩm chất đạo đức.
1. Xác định số chữ, cách gieo vần, mối quan hệ giữa các vế trong bản nguyên tác
của các câu tục ngữ trên.
2. Hãy chia nhóm các câu tục ngữ trong bài dựa vào nội dung của chúng.
3. Chỉ ra kinh nghiệm về tự nhiên hoặc xã hội được đúc kết trong mỗi câu tục ngữ.
CA DAO
Chuẩn bị
Khi đọc bài ca dao, em cần lưu ý:
– Thể thơ, số dòng, cách gieo vần trong bài ca dao.
– Tình cảm, tâm sự của tác giả dân gian thể hiện qua bài ca dao.
VĂN
BẢN
– Biện pháp tu từ được sử dụng, hiệu quả của biện pháp tu từ đó đối với bài ca dao.
7
VĂN BẢN
Đồng Đăng(1) có phố Kỳ Lừa (2)
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Tiếc công(2) bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem(3)
Mảng vui(4) quên hết lời em dặn dò.
(Theo Mã Giang Lân, Tục ngữ, ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 93)
Chợ Kỳ Lừa xưa và nay
Em có biết?
● Ca dao diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ lứa đôi,
gia đình, xã hội, đất nước,... gắn liền với nghi lễ, phong tục và đời sống sinh hoạt hằng ngày.
● Ca dao Lạng Sơn bao gồm ca dao tiếng Việt và ca dao tiếng dân tộc thiểu số.
(1)
Đồng Đăng: khoảng từ cuối thế kỉ XV, Đồng Đăng là một vùng rộng lớn bao gồm thành phố Lạng Sơn
và Đồng Đăng ngày nay, trong đó có chợ Kỳ Lừa, chùa Tam Thanh, núi Tô Thị,…
(2)
Tiếc công: có dị bản là bõ công.
Nem: có thể hiểu là nem (dùng để ăn), cũng có thể hiểu là nem hương – nhang (dùng để cúng, lễ).
(4)
Mảng vui: có dị bản là mải vui.
(3)
8
1. Chỉ ra đặc điểm của thể thơ lục bát thể hiện qua bài ca dao (số chữ trong mỗi
dòng, số dòng trong bài, cách gieo vần, cách ngắt nhịp).
2. Chỉ ra các địa danh của Lạng Sơn xuất hiện trong bài ca dao.
3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong bài ca dao.
4. Em có cảm nhận gì về vẻ đẹp của Lạng Sơn qua bài ca dao trên?
5. Nhận xét về tình cảm của tác giả dân gian đối với Lạng Sơn qua bài ca dao trên.
1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 10 – 12 câu) bày tỏ suy nghĩ của em về vấn đề
đời sống được gợi ra từ một câu tục ngữ hoặc bài ca dao đã học.
2. Giả sử bạn em cho rằng câu tục ngữ:
Slíp pì noọng dú quây
Bấu tày lạo thua đây tồng tó.
(Mười anh em ở xa
Không bằng người cạnh cầu thang.)
có nghĩa là không cần quan tâm đến những người ruột thịt ở cách xa mình mà chỉ nên
quan tâm, yêu quý láng giềng. Hãy nêu quan điểm của em về vấn đề này.
1. Sưu tầm các dị bản của bài ca dao đã học, ghi chép lại.
2. Ghi lại 3 tình huống sử dụng tục ngữ em nghe được trong lời ăn tiếng nói
hằng ngày của người thân, bạn bè.
3. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 10 – 12 câu) về vấn đề đời sống được gợi ra từ một
câu tục ngữ em sưu tầm được.
9
2
HÁT THEN − ĐÀN TÍNH Ở TỈNH LẠNG SƠN
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Trình bày được một số đặc điểm và giá trị của Di sản Thực hành Then.
● Xác định được vai trò, ý nghĩa của hát Then – đàn tính trong đời sống hiện nay ở
địa phương em.
● Sưu tầm và liệt kê được một số chủ đề của lời hát Then mới ở địa phương em
hiện nay.
● Làm được một sản phẩm tuyên truyền về hát Then – đàn tính (bài viết, hình
ảnh, video clip, poster,...).
Thảo luận để trả lời câu hỏi:
– Em đã từng tham dự Nghi lễ Then hoặc chương trình biểu diễn hát Then – đàn tính
chưa? Cảm xúc của em sau khi tham dự hoạt động đó như thế nào?
– Chia sẻ với các bạn trong nhóm những hiểu biết của em về hát Then – đàn tính ở
địa phương em hiện nay.
1. Thực hành Then của Việt Nam được ghi danh là di sản văn hoá của nhân loại
Thực hành Then tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc (Bắc Giang, Bắc Kạn,
Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang), vùng Tây Bắc
(Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai) và một số địa phương khác ở Việt Nam. Đây là di sản văn
hoá đặc trưng của người Tày, Nùng, Thái,...
Thực hành Then của người Tày, Nùng ở Lạng Sơn, cũng giống như ở các địa
phương khác, vừa là một thực hành nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh,
vừa là một loại hình nghệ thuật dân gian phản ánh các quan niệm về con người, thế
giới tự nhiên và vũ trụ của người Tày, Nùng. Các nghi lễ Then như cầu an, giải hạn,
cúng mụ,... đều hướng tới những điều tốt đẹp, bày tỏ khát vọng về cuộc sống bình
yên, ấm no, hạnh phúc và thể hiện bản sắc văn hoá của các dân tộc này. Năm 2019,
Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá
phi vật thể đại diện của nhân loại.
10
Thực hành Then là một loại hình
nghệ thuật tổng hợp chứa nhiều
thành tố văn học, âm nhạc, mĩ thuật,
múa,... Trong các nghi lễ, ông Then,
bà Then trình diễn như một diễn
viên tổng hợp: miệng hát, tay đàn,
múa, diễn trò minh hoạ cho lời hát,
chân xóc nhạc,...
Âm nhạc là yếu tố xuyên suốt, có
nhiều bài bản, làn điệu được diễn
tấu trong nghi lễ Then… Trong đó,
đàn tính và chùm xóc nhạc cùng với
sự “thăng hoa” của thầy Then đã tạo
nên tính đa dạng, phong phú của
âm nhạc và lời hát của Then.
Em có biết?
Di sản văn hoá là sản phẩm tinh thần, vật
chất có giá trị lịch sử – văn hoá, khoa học, được
lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh
thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể
và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch
sử – văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của
cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các
hình thức khác.
Lời ca trong Then phổ biến là thơ bảy chữ, phản ánh đời sống xã hội của cư dân
Tày, Nùng, chứa đựng nhiều bài học đạo đức thông qua những câu chuyện thần tiên,
câu chuyện cuộc đời; chứa đựng nhiều tư liệu quý về lịch sử, tư tưởng, phong tục,
tập quán,...
1. Tại sao nói “Then là một loại hình trình diễn nghi lễ mang tính tổng hợp”?
2. Theo em, giá trị đặc sắc của Thực hành Then là gì? Vì sao?
2. Hát Then – đàn tính của người Tày, Nùng trong đời sống hiện nay
Nếu Then cổ (Then tâm linh) là các nghi lễ liên quan đến cuộc sống của con
người, như một phương tiện để truyền tải ước nguyện về sự bình an, hạnh phúc cho
mỗi cá nhân; gia đình và cộng đồng, được một số ít nghệ nhân và những người làm
nghề Then lưu giữ, hành nghề, truyền dạy thì Then mới (Then văn nghệ) lại do
những người am hiểu, yêu thích then đặt lời mới theo giai điệu then cổ với nội dung
ca ngợi cuộc sống, tình yêu đôi lứa, ca ngợi công ơn của Đảng, của Bác Hồ,... Then
mới có số lượng người lưu truyền, sáng tác khá đông đảo, được phát triển ở hầu
khắp các bản làng có người Tày, Nùng sinh sống. Đó là cách để các thế hệ nối tiếp
nhau đưa hát Then – đàn tính bay xa.
Những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã khuyến khích thành lập và phát triển các câu lạc bộ
hát Then – đàn tính.
Theo thống kê của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn, đến năm 2021, toàn
tỉnh có gần 100 câu lạc bộ (hoặc nhóm người) được thành lập với mục đích sinh hoạt,
11
giao lưu, trao truyền nghệ thuật hát Then − đàn tính. Những tiết mục biểu diễn hát
Then − đàn tính đã và đang trở thành những tiết mục tiêu biểu, ngày càng chiếm tỉ lệ
cao trong các chương trình biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quần
chúng của địa phương.
Hình 1. Câu lạc bộ hát Then Nộc Khảm Khắc (thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng)
Chủ đề sáng tác lời mới khá phong phú, trong đó xuyên suốt là mạch nguồn xúc
cảm về tình yêu quê hương, làng bản: “… Tân Mỹ nơi núi rừng xanh thăm thẳm/Nơi
nguồn nước trong mát ngày đêm/Bên vườn mận xanh mướt trĩu cành/Cùng vườn hồng, đồi
cam sai quả/Quê em mười tám thôn đoàn kết/Một lòng đi theo lời Đảng dạy…” (Tân Mỹ
quê em đổi mới, đặt lời: Chu Thị Đài); là những lời ca gần gũi, phù hợp với cách cảm, cách
nghĩ của con người trong thời đại mới, tạo được sức hấp dẫn cho thế hệ trẻ: “… Lời Bác
còn sáng mãi trong lòng/Không có gì quý hơn độc lập, tự do/Người là ánh mặt trời soi
sáng đường/Nhìn quê nhà đổi mới lòng tràn đầy niềm vui…” (Nhớ ơn Bác Hồ, sáng tác: Vi Tơ);
là cách thể hiện của người miền núi với lối tư duy theo mạch thẳng, dễ hiểu và
thân thuộc: “Canh khuya nghe tiếng vọng đại ngàn/Văng vẳng điệu dân ca quê
mình/Quê mình có Ví, Lượn, Sli, Then/Điệu hát ru muôn đời lưu giữ/Điệu Quan làng trình họ
mừng cưới/Điệu Phong slư điệu hát gửi trao/Cùng nhau ta chung tay gìn giữ/Kì xuân về
nhớ tìm câu then/Câu hát Lượn giao duyên bạn nhé…” (Điệu dân ca quê mình, đặt lời:
Dương Công Tuất);…
12
Ngoài ra, các công đoạn chế tác cây đàn tính, phương pháp và thực hành chơi
đàn tính – loại nhạc cụ không thể thiếu trong hát Then cũng được chú trọng truyền
dạy, phát triển trở thành nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của người Tày, Nùng,
góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch, dịch vụ
tại địa phương.
Hình 2. Vi Tơ – người nghệ sĩ tâm huyết với cây đàn tính
Theo dòng chảy thời gian, với sự đổi mới, sáng tạo không ngừng của đồng bào dân
tộc Tày, Nùng, Then trong đời sống đương đại được “khoác tấm áo mới” bằng những lời
ca tươi sáng phản ánh cuộc sống ngày nay, tạo nên sự phong phú cho văn hoá dân tộc,
mở thêm con đường để Then có sức sống lâu bền, trường tồn theo thời gian.
1. Kể tên một số câu lạc bộ hát Then – đàn tính ở địa phương em và chia sẻ về việc
đặt lời mới hiện nay.
2. Em biết gì về cây đàn tính? Kể tên một số nghệ nhân hoặc người chế tác đàn tính
mà em biết.
13
1. Nêu những đặc điểm và giá trị của di sản Thực hành Then.
2. Trình bày vai trò, ý nghĩa của hát Then − đàn tính trong đời sống.
3. Em sẽ làm gì để góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản Thực hành Then ở
Lạng Sơn?
1. Sưu tầm và giới thiệu về một số chủ đề của lời hát Then mới ở Lạng Sơn
hiện nay.
2. Em và các bạn hãy làm một sản phẩm truyền thông về hát Then − đàn tính (bài
viết, hình ảnh, video clip, poster,...).
3. Lựa chọn một tác phẩm/đoạn trích hát Then – đàn tính, cùng các bạn luyện tập và
biểu diễn cho người thân hoặc thầy cô giáo và các bạn thưởng thức.
14
LẠNG SƠN TRONG CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG XÂM LƯỢC VÀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI TỔ QUỐC
(TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX)
3
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Trình bày sơ lược sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Lạng Sơn từ thế kỉ X
đến giữa thế kỉ XIX.
● Trình bày được đóng góp của nhân dân Lạng Sơn trong một số cuộc kháng
chiến chống xâm lược tiêu biểu của dân tộc cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ
biên cương Tổ quốc.
● Tự hào về truyền thống yêu nước, có ý thức trách nhiệm bảo vệ và xây dựng
quê hương.
Em có biết vùng đất Lạng Sơn gắn liền với những chiến công lẫy lừng nào trong đấu
tranh chống các triều đại phong kiến phương Bắc? Nhân dân các dân tộc ở Lạng Sơn đã
đoàn kết với nhân dân cả nước, bảo vệ vùng đất biên cương của Tổ quốc như thế nào?
1. Địa giới, tên gọi Lạng Sơn từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX
Trong thời kì phong kiến độc lập, vùng đất Lạng Sơn có sự thay đổi về địa giới hành
chính với các tên gọi khác nhau.
•
•
•
•
Thời Đinh, Tiền Lê: Lạng Sơn thuộc châu Lạng của Đại Cồ Việt.
Thời Lý: châu Lạng được đổi thành lộ với tên gọi Lạng Giang.
Đầu thời Trần: Lộ Lạng Giang được đổi thành trấn.
Thời Lê sơ: Thời kì đầu, cả nước được chia thành 5 đạo, vùng đất Lạng Sơn
là một trấn thuộc Bắc đạo. Đến năm 1466, Lê Thánh Tông chia nước
thành 12 đạo thừa tuyên, trấn Lạng Sơn được đổi thành thừa tuyên
Lạng Sơn.
• Thời Nguyễn: Lạng Sơn là một trấn thuộc Bắc Thành. Năm 1831, vua Minh
Mạng tiến hành cải cách hành chính, tên gọi tỉnh Lạng Sơn bắt đầu từ đó.
Vùng đất Lạng Sơn từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX đã trải qua những tên gọi nào?
15
2. Nhân dân Lạng Sơn trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ
biên giới Tổ quốc (từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX)
a) Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI
Lạng Sơn nằm trên con đường chính, ngắn nhất từ biên giới Việt – Trung đến kinh
thành Thăng Long. Trên con đường ấy, ải Chi Lăng là nơi hiểm yếu, thuận lợi cho việc bố
trí phục binh, chốt hiểm. Nơi đây đã từng ghi dấu những chiến công oanh liệt của quân
dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc suốt gần mười
thế kỉ.
Năm 1075, trước nguy cơ quân Tống chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai, Thái uý
Lý Thường Kiệt tổ chức một cuộc tập kích vào đất Tống nhằm phá tan các cứ điểm
Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu của giặc. Đạo quân bộ chủ yếu là người Tày (ở Cao
Bằng, Lạng Sơn) do Thân Cảnh Phúc chỉ huy phối hợp với quân triều đình tiến thẳng
sang Ung Châu. Kế hoạch thành công, Lý Thường Kiệt lập tức cho rút quân về nước.
Trong cuộc chủ động tiến công này, nhân dân Lạng Sơn cùng với các tù trưởng đã đóng
góp công lớn với triều đình.
Tư liệu 1. Phò mã Thân Cảnh Phúc, thủ lĩnh châu Quang Lang đóng quân ở động Giáp
(vùng Kép, Bắc Giang) khống chế đường Lạng Sơn – Thăng Long). Lợi hại nhất là đội
binh của ông đặt ở đèo Quyết Lý (phía bắc Chi Lăng) và cửa ải Giáp Khẩu (ải Chi Lăng).
Hỗ trợ cho Thân Cảnh Phúc là quân của các tù trưởng ở mạn Cao Bằng… Chính phó
tướng giặc là Triệu Tiết cũng phải công nhận Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc
ở động Giáp đều cầm cường binh. Năm 1077, Quách Quỳ cho quân kéo vào cửa ải Nam
Quan, đánh vào ải Quyết Lý (Chi Lăng). Phò mã Thân Cảnh Phúc được triều đình giao
trọng trách chặn đánh giặc từ biên giới Lạng Sơn xuống Chi Lăng đến địa bàn tỉnh Bắc
Giang. Các cuộc tập kích của đạo quân Thân Cảnh Phúc đã làm cho địch gặp nhiều khó
khăn trên đường di chuyển.
(Tỉnh uỷ Lạng Sơn, Địa chí Lạng Sơn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.184)
Hình 1. Thân Cảnh Phúc − thủ lĩnh
châu Quang Lang cùng quân, dân
binh chiến đấu tiêu hao sinh lực địch
tại Chi Lăng năm 1077 (tranh vẽ)
16
Thế kỉ XIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên dưới thời Trần, nhân
dân các dân tộc Lạng Sơn tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho sự thắng lợi của
cuộc kháng chiến.
Tư liệu 2. Nguyễn Lộc hay Nguyễn Thế Lộc là thổ hào Lạng Sơn người dân tộc Tày,
được vua Trần phong là quản quân ở miền núi. Đầu năm 1258, khi quân giặc tiến
đến Lạng Sơn đã bị quân ta chặn đánh ở Khâu Ôn (Chi Lăng). Tháng 2 – 1285,
Thoát Hoan cho người đưa bọn phản bội Trần Kiện về cầu cứu vua Nguyên. Khi
chúng đến Lạng Sơn đã bị đội dân binh người Tày do hai anh em Nguyễn Thế Lộc và
Nguyễn Lĩnh chỉ huy bao vây, phục kích tại Ma Lục (Chi Lăng), quá nửa quân địch bị bắt.
(Tỉnh uỷ Lạng Sơn, Địa chí Lạng Sơn, Sđd, tr. 188)
Từ cuộc đấu tranh của quân và dân Lạng Sơn đã cho thấy những cái hố bẫy ngựa,
hay vách núi ở Chi Lăng đều được coi là một trong những kì công sáng tạo trong
nghệ thuật đánh giặc giữ nước của cha ông. Những địa danh của Lạng Sơn như
Quỷ Môn Quan, Cấm Địa, Lũng Ngàn, ải Chi Lăng,… đã làm cho quân giặc nhiều phen hồn
xiêu phách lạc.
Kết nối với văn học
Hình ảnh Quỷ Môn Quan – tử địa của quân thù đã
đi vào thi ca, trong đó có tác phẩm Quỷ Môn Quan
của Đại thi hào Nguyễn Du:
Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây,
Ải chia Nam Bắc chính là đây.
Tử sanh tiếng đã vang đồng chợ,
Qua lại người không ngớt tháng ngày.
Thấp thoáng quỷ đầu nương bóng khói,
Rập rình cọp rắn núp rừng cây.
Hình 2. Núi Mặt Quỷ (Quỷ môn)
(thuộc thôn Quán Thanh, xã Chi Lăng,
huyện Chi Lăng)
Bên đường gió lạnh luồng xương trắng,
Hán tướng công gì kể bấy nay?
Quách Tấn dịch
Đầu thế kỉ XVI, dưới ách thống trị của nhà Minh, tại Lạng Sơn đã nổ ra nhiều cuộc
khởi nghĩa chống quân Minh như khởi nghĩa của Nông Văn Lịch, Hoàng Thiên Hữu,
Nguyễn Văn Hách, Dương Thế Châu,...
Năm 1418, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo bùng nổ. Cuối năm 1427,
nhà Minh cử 10 vạn quân sang tiếp viện, tiến theo đường Lạng Sơn để về Đông Quan.
17
Quân ta bố trí trận địa mai phục
và tập kích quân giặc tại ải Chi
Lăng, tiêu diệt hàng vạn quân
tiên phong của giặc, trong đó
có cả chủ tướng Liễu Thăng.
Chiến thắng Chi Lăng – Xương
Giang của ta đã làm cho thế và
lực
 





